URL: http://vca.edu.vn/portal/page/portal/hvta/27676686/27677461?pers_id=28346379&item_id=320653944&p_details=1
 
Giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn thẩm phán đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay
07/07/2025-08:23:00 AM
 
 TS

TS. Nguyễn Minh Sử*

TS. Hoàng Văn Toàn*

 

Tóm tắt: Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích sâu sắc tinh thần và nội dung cốt lõi của các nghị quyết quan trọng của Đảng trong giai đoạn hiện nay, đặc biệt là những định hướng liên quan đến cải cách tư pháp, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho hệ thống Tòa án. Trên cơ sở đó, bài viết đặt mục tiêu đề xuất các giải pháp thiết thực nhằm đổi mới và nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghiệp vụ xét xử cho đội ngũ công chức là nguồn Thẩm phán. Việc đào tạo không chỉ hướng đến chuẩn hóa chuyên môn, mà còn phải bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp và tư duy tư pháp hiện đại, đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

Từ khoá: Đào tạo nghiệp vụ xét xử, nguồn Thẩm phán, Cải cách tư pháp

1. Đặt vấn đề

Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhiệm vụ trọng tâm trong quá trình đổi mới toàn diện đất nước. Một trong những trụ cột của Nhà nước pháp quyền chính là một nền tư pháp chuyên nghiệp, liêm chính, độc lập và hiệu quả. Trong đó, đội ngũ Thẩm phán giữ vai trò then chốt. Việc đào tạo nghiệp vụ xét xử cho đội ngũ công chức là nguồn Thẩm phán vì vậy không chỉ là yêu cầu về chuyên môn, mà còn mang ý nghĩa chiến lược trong xây dựng hệ thống tư pháp hiện đại, phục vụ nhân dân và bảo vệ công lý.

Tuy nhiên, hiện nay công tác đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán vẫn còn những hạn chế nhất định về nội dung, phương pháp, mô hình tổ chức và cơ sở pháp lý. Do đó, chuyên đề này tập trung nghiên cứu đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo, góp phần xây dựng đội ngũ Thẩm phán “vừa hồng, vừa chuyên”, đáp ứng yêu cầu mới trong tiến trình cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tình hình mới.[1]

2. Cơ sở lý luận và cơ sở pháp lý cho việc đào tạo nghiệp vụ xét xử cho nguồn Thẩm phán

2.1. Cơ sở lý luận

Việc đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán không chỉ là một yêu cầu chuyên môn nghiệp vụ đơn thuần, mà còn xuất phát từ định hướng chiến lược của Đảng trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổng kết thực tiễn thông qua các Nghị quyết của Đảng, là cơ sở lý luận cho việc đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán. Các nghị quyết quan trọng của Đảng trong thời gian gần đây đã xác lập nền tảng lý luận và chính trị sâu sắc cho việc phát triển đội ngũ Thẩm phán chất lượng cao đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp trong thời gian tới – trong đó công tác đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ đóng vai trò then chốt.

Trước hêt, Kết luận số 84-KL/TW ngày 29/7/2020 của Bộ Chính trị về tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020.  Tại Kết luận số 84-KL/TW về tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa IX) về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, Bộ Chính trị đã chỉ rõ 4 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm để khắc phục những hạn chế, yếu kém trong công tác cải cách tư pháp, trong đó có nội dung:“Chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp, nhất là đội ngũ cán bộ thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, chấp hành viên phải thực sự liêm chính, công tâm, chuyên nghiệp, có bản lĩnh chính trị, giỏi về nghiệp vụ, tinh thông về pháp luật, nắm vững chủ trương, chính sách của Đảng, đủ phẩm chất, năng lực, uy tín đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới[2]

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới nhấn mạnh yêu cầu: Phát triển nhân lực tư pháp đủ số lượng, bảo đảm chất lượng, có cơ cấu hợp lý. Nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực tư pháp; rà soát, sắp xếp hợp lý các cơ sở đào tạo cử nhân luật. Xác định rõ hệ tiêu chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp, kiến thức pháp luật, kinh tế, xã hội và kinh nghiệm thực tiễn đối với từng chức danh, nhân lực tư pháp. 

Mở rộng nguồn, đẩy mạnh thực hiện cơ chế thi tuyển để bổ nhiệm các chức danh tư pháp. Ðổi mới chính sách, chế độ tiền lương, thời hạn bổ nhiệm và cơ chế bảo đảm để đội ngũ cán bộ tư pháp yên tâm công tác, liêm chính, công tâm, chuyên nghiệp, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, nhất là đối với đội ngũ thẩm phán”.[3] Đây là sự khẳng định vai trò trung tâm của nguồn nhân lực tư pháp trong kiến tạo nền tư pháp độc lập, chuyên nghiệp và hiệu quả, đồng thời đặt ra yêu cầu toàn diện đối với công tác đào tạo, trong đó trọng tâm là đào tạo nghiệp vụ xét xử.

Tiếp đó, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã khẳng định: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới[4]. Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Ngày 25/3/2025, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) ban hành Kế hoạch số 131/KH-TANDTC về thực hiện chuyển đổi số ngành Tòa án nhân dân năm 2025[5].  Đối với lĩnh vực đào tạo nghiệp vụ xét xử, đây là cơ sở lý luận cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy, xây dựng học liệu số, mô phỏng tranh tụng, kho án lệ điện tử và triển khai đào tạo các nội dung liên quan đến“tòa án điện tử” trong chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử cho đối tượng công chức là nguồn Thẩm phán.

Trong cùng tinh thần đổi mới toàn diện, Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới cũng xác định rõ quan điểm chỉ đạo: 2. Công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; là một nhiệm vụ trọng tâm của tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.

4. Nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật, tập trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật; gắn kết chặt chẽ giữa xây dựng và thi hành pháp luật.” Đồng thời Nghị quyết cũng chỉ ra 5 nhiệm vụ, giải pháp trong đó có nhấn mạnh cần xây dựng giải pháp đột phá nâng cao chất lượng nguồn nhân lực pháp luật với nội dung cụ thểNâng cao chất lượng đào tạo luật, phát triển các cơ sở đào tạo luật trọng điểm có uy tín; kiên quyết chấm dứt hoạt động của các cơ sở đào tạo luật không bảo đảm tiêu chí, tiêu chuẩn theo quy định. Xây dựng chương trình, tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về xây dựng pháp luật. Xây dựng chuẩn đào tạo đối với các chức danh tư pháp và bổ trợ tư pháp.” [6] Quan điểm trên của Đảng chỉ rõ chương trình đào tạo phải được xây dựng chuẩn đào tạo đối với chức danh tư pháp trong đó có “Thẩm phán”. Đồng thời việc tâm trung xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật, bảo đảm thượng tôn Hiến pháp và pháp luật phải được lồng ghép trong quá trình đào tạo.

Ngoài ra, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân trong giai đoạn mới, khẳng định: Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững; cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng”[7] cũng gián tiếp đặt ra yêu cầu về một nền tư pháp thân thiện với doanh nghiệp, công bằng, hiệu quả và nhanh chóng trong giải quyết tranh chấp kinh tế – thương mại. Muốn vậy, cần phải có đội ngũ Thẩm phán có tư duy kinh tế – pháp lý hiện đại, được đào tạo liên ngành và có khả năng xử lý tranh chấp phức tạp, trong đó nguồn Thẩm phán từ công chức cần được trang bị năng lực tương xứng.

Từ những cơ sở lý luận trên, có thể khẳng định rằng: việc nâng cao hiệu quả đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán là yêu cầu khách quan, bắt nguồn từ chính định hướng chiến lược của Đảng về xây dựng hệ thống tư pháp hiện đại, đáp ứng yêu cầu hội nhập, chuyển đổi số và cải cách tư pháp sâu rộng. Đây không chỉ là nhiệm vụ chuyên môn của hệ thống Tòa án nhân dân, mà còn là trách nhiệm chính trị trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

            2.2. Cơ sở pháp lý

Việc đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán là yêu cầu khách quan trong quá trình xây dựng đội ngũ Thẩm phán có chất lượng, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Cơ sở pháp lý cho công tác này được xác lập từ hệ thống pháp luật hiện hành, thể hiện qua nhiều cấp độ, trong đó nền tảng quan trọng nhất là Hiến pháp năm 2013. Cụ thể, Điều 102 Hiến pháp năm 2013 quy định: Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp. Đồng thời, Điều 103 khoản 2 khẳng định: Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm. Như vậy, để thực hiện đúng trách nhiệm xét xử – một hình thức thực thi quyền lực nhà nước – thì Thẩm phán cần được đào tạo bài bản về nghiệp vụ xét xử, nhằm bảo đảm năng lực áp dụng pháp luật chính xác, khách quan, công bằng, từ đó bảo vệ công lý và quyền con người theo tinh thần Hiến pháp.

Trên cơ sở Hiến pháp, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2014 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2024) quy định rõ về tiêu chuẩn bổ nhiệm Thẩm phán. Theo Điều 94 (Luật sửa đổi, bổ sung năm 2024):

1. Là công dân Việt Nam, trung thành với Tổ quốc và với Hiến pháp, có phẩm chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tinh thần dũng cảm và kiên quyết bảo vệ công lý, liêm khiết và trung thực.

2. Có độ tuổi từ đủ 28 tuổi trở lên.

3. Có trình độ cử nhân luật trở lên.

4. Đã được đào tạo nghiệp vụ xét xử.

5. Có thời gian làm công tác pháp luật.

6. Có sức khỏe bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ được giao.

 Đây là căn cứ pháp lý trực tiếp, khẳng định rằng việc đào tạo nghiệp vụ xét xử là điều kiện bắt buộc, có tính pháp lý cao, nhằm chuẩn hóa đầu vào cho đội ngũ Thẩm phán.

Ngoài các văn bản tổ chức bộ máy, các đạo luật tố tụng như Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2021), Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, và Luật Tố tụng hành chính năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2019) là nguồn pháp lý chủ yếu để thiết kế nội dung chương trình đào tạo. Các đạo luật này quy định cụ thể về nguyên tắc tố tụng, trình tự xét xử, thủ tục thu thập và đánh giá chứng cứ, kỹ năng điều hành phiên tòa, ra quyết định xét xử…, là những kỹ năng thiết yếu đối với một Thẩm phán.

Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật nội dung như Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi 2017), Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Luật Đất đai năm 2024… cung cấp căn cứ để xây dựng chương trình đào tạo chuyên môn sâu, bảo đảm học viên nắm vững quy định pháp luật trong từng lĩnh vực cụ thể, đáp ứng yêu cầu giải quyết đa dạng các loại vụ việc trong thực tiễn.

Tóm lại, hệ thống pháp luật Việt Nam hiện hành từ Hiến pháp, Luật tổ chức Tòa án đến pháp luật tố tụng và nội dung đã hình thành nền tảng pháp lý đầy đủ và toàn diện cho việc tổ chức đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán. Đây là điều kiện bắt buộc để xây dựng một nền tư pháp chuyên nghiệp, liêm chính, hiện đại, góp phần hiện thực hóa mục tiêu của Đảng về xây dựng đội ngũ Thẩm phán “vừa hồng, vừa chuyên”, “Phụng công thủ pháp”, đủ năng lực thực hiện quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong tình hình mới.

3. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn thẩm phán

3.1. Đổi mới nội dung chương trình đào tạo theo hướng tích hợp kiến thức pháp lý, kỹ năng và thực tiễn xét xử

Tái cấu trúc chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán trong bối cảnh mới. Trong thời gian qua, chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử dành cho công chức là nguồn Thẩm phán về cơ bản đã đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn, góp phần cung cấp nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn và bản lĩnh chính trị cho hệ thống Tòa án nhân dân. Tuy nhiên, trước bối cảnh cải cách tư pháp ngày càng sâu rộng, sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ, quá trình hội nhập quốc tế mạnh mẽ và yêu cầu thực thi pháp luật trong các lĩnh vực mới, mô hình đào tạo hiện hành bộc lộ nhiều giới hạn và cần được tái cấu trúc toàn diện theo hướng tích hợp và thực tiễn hóa cao hơn đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn Thẩm phán chất lượng cao cho hệ thống Toà án nhân dân trong tình hình mới.

Một mô hình đào tạo hiện đại cần kết hợp hài hòa giữa bốn hợp phần: (i) kiến thức nền tảng pháp lý, (ii) kỹ năng nghề nghiệp cốt lõi, (iii) đào tạo theo tình huống mô phỏng, và (iv) thực hành thực tế tại các Tòa án. Trong đó:

·         Kiến thức pháp luật nền tảng là nền móng để hình thành, phát triển tư duy tư pháp chuẩn mực, bao gồm hệ thống các học phần chuyên sâu về Hiến pháp, Luật Tố tụng hình sự, dân sự, hành chính; pháp luật nội dung như dân sự, hình sự, đất đai, hôn nhân – gia đình, thương mại…Các học phần này cần được thiết kế theo hướng lồng ghép tình huống thực tiễn và xử lý pháp lý đa chiều.

·         Kỹ năng nghề nghiệp như kỹ năng thụ lý, điều hành phiên đối thoại, hoà giải, kỹ năng thu thật chứng cứ, điều hành phiên tòa, kỹ năng xét hỏi, kỹ năng đánh giá chứng cứ, viết bản án, giải quyết tình huống tranh tụng cần được giảng dạy theo hướng mô hình hóa, chuẩn hóa năng lực của Thẩm phán.

·         Thực hành mô phỏng tình huống là yếu tố then chốt giúp học viên chuyển hóa kiến thức thành năng lực hành vi. Các phiên tòa giả định, tình huống mô phỏng viết quyết định, bản án, tranh tụng… cần dựa trên những bản án điển hình, bản án đã có hiệu lực hoặc án lệ theo Nghị quyết số 04/2019/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao.

·         Thực tập tại các Tòa án nhân dân là bước chuyển từ học thuật sang thực tiễn, cho phép học viên tiếp cận môi trường tố tụng thực tế, dưới sự hướng dẫn của Thẩm phán giàu kinh nghiệm. Đây cũng là giai đoạn kiểm tra, đánh giá năng lực hành nghề trước khi xét bổ nhiệm.

Việc tái cấu trúc chương trình đào tạo cần bám sát chuẩn đầu ra theo quy định của Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014, sửa đổi, 2024 và 2025 về tiêu chuẩn bổ nhiệm Thẩm phán, đồng thời cập nhật các yêu cầu mới từ thực tiễn xét xử. Cụ thể, chương trình cần bổ sung nội dung liên quan đến các dạng vụ việc ngày càng phổ biến và phức tạp như: tranh chấp thương mại xuyên biên giới, án hành chính về môi trường, quyền công dân trong không gian mạng, tội phạm công nghệ cao, bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động tố tụng, kỹ năng nghị án...

Như vậy, đổi mới chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử không chỉ là yêu cầu tất yếu nhằm đáp ứng tiêu chuẩn nghề nghiệp Thẩm phán, mà còn là bước đi chiến lược trong hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, phù hợp với yêu cầu của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới.

2.2. Chuẩn hóa đội ngũ giảng viên và chuyên gia hướng dẫn

Một trong những yếu tố có tính quyết định đến chất lượng đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán chính là đội ngũ giảng viên và chuyên gia hướng dẫn. Theo lý luận giáo dục hiện đại, chất lượng người dạy là yếu tố liên quan đến nhà trường quan trọng nhất ảnh hưởng đến chất lượng của người học, đặc biệt trong lĩnh vực đào tạo nghề nghiệp – nơi mà việc chuyển giao tri thức không chỉ dừng lại ở lý luận, mà còn bao hàm năng lực thực hành và bản lĩnh nghề nghiệp. Trong bối cảnh xây dựng nền tư pháp liêm chính, hiện đại, thì việc chuẩn hóa đội ngũ giảng viên pháp luật tư pháp, nhất là giảng viên giảng dạy nghiệp vụ xét xử, trở thành một yêu cầu cấp thiết và lâu dài.

Trước hết, việc tuyển chọn giảng viên cần dựa trên bộ tiêu chí năng lực giảng dạy nghiệp vụ xét xử, trong đó ưu tiên hàng đầu là những Thẩm phán có kinh nghiệm thực tiễn, từng xét xử các loại án phức tạp, có tư duy tổng hợp và năng lực phân tích hệ thống. Tuy nhiên, không phải Thẩm phán nào cũng có năng lực sư phạm. Do vậy, yếu tố thứ hai không thể thiếu là kỹ năng truyền đạt – khả năng chuyển hóa kinh nghiệm xét xử thành bài học pháp lý có tính lý luận, đồng thời phù hợp với năng lực nhận thức của học viên. Mô hình lý tưởng chính là sự kết hợp giữa Thẩm phán và giảng viên pháp luật chuyên nghiệp – tức người "giỏi nghề" và người "giỏi dạy". Việc kết hợp này không chỉ giúp học viên lĩnh hội được kiến thức chuyên sâu mà còn phát triển tư duy nghề nghiệp từ góc nhìn thực tiễn giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Toà án.

Đáng chú ý, việc tuyển chọn và bổ nhiệm các Thẩm phán có trình độ tiến sĩ tham gia giảng dạy cần được coi là giải pháp chiến lược. Đây là lực lượng nòng cốt có khả năng vừa nghiên cứu chuyên sâu, vừa chuyển hóa tri thức nghiên cứu vào giảng dạy nghiệp vụ, tạo nên sự kết nối giữa lý luận và thực tiễn. Việc chuẩn hóa đội ngũ giảng viên theo hướng này cũng giúp nâng cao tính khoa học, hiện đại của chương trình đào tạo, đồng thời tạo nguồn lực kế cận cho các chức danh giảng dạy cao cấp trong hệ thống tư pháp và đào tạo tư pháp quốc gia.

Một nội dung quan trọng khác là xây dựng cơ chế luân chuyển Thẩm phán giỏi từ TAND cấp cao hoặc TANDTC về giảng dạy tại Học viện Tòa án theo mô hình kiêm nhiệm hoặc hợp đồng bán thời gian. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, trong nhiều quốc gia có nền tư pháp phát triển như Đức, Pháp, Nhật Bản, các học viện tư pháp thường xuyên mời các Thẩm phán cấp cao, Chánh án hoặc Thẩm phán tòa tối cao tham gia giảng dạy hoặc phản biện học thuật trong khóa đào tạo nghiệp vụ. Điều này không chỉ đảm bảo tính thực tiễn mà còn tạo động lực để các Thẩm phán tích cực nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm, qua đó góp phần phát triển lý luận pháp luật.

Song song với đó, cần mở rộng đội ngũ cố vấn học thuật đến từ các Viện nghiên cứu, Khoa Luật tại các trường đại học lớn như Đại học Luật Hà Nội, Trường ĐH Luật TP.HCM, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội… Việc kết hợp các chuyên gia lý luận chuyên sâu về tố tụng, pháp luật quốc tế, nhân quyền, pháp luật số, trí tuệ nhân tạo trong tư pháp... sẽ giúp cập nhật những xu thế tư pháp hiện đại vào giảng dạy, định hướng phát triển tư duy hệ thống và tầm nhìn dài hạn cho đội ngũ Thẩm phán tương lai. Đây cũng là cách nâng cao chất lượng giáo trình, học liệu và hướng nghiên cứu chuyên sâu trong đào tạo nghiệp vụ.

Ngoài ra, việc tập huấn nghiệp vụ sư phạm định kỳ cho các Thẩm phán trước khi tham gia giảng dạy là yêu cầu bắt buộc nhằm chuẩn hóa kỹ năng sư phạm chuyên biệt cho lĩnh vực pháp luật thực hành. Các chuyên đề như: thiết kế bài giảng theo định hướng năng lực, phương pháp case-based learning (học qua tình huống), hướng dẫn học viên xây dựng bản án, phản biện mô phỏng... cần được lồng ghép vào chương trình đào tạo giảng viên. Đây là xu hướng đào tạo tư pháp tại các nước OECD, nơi mô hình “thẩm phán – giảng viên” được coi là cầu nối giữa công lý và học thuật.

Cuối cùng, để đảm bảo tính bền vững, việc chuẩn hóa đội ngũ giảng viên cần đi kèm với cơ chế đãi ngộ phù hợp: từ việc công nhận giờ giảng vào quy hoạch, thi đua, khen thưởng trong ngành, đến việc tạo điều kiện nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế, hỗ trợ học viên nghiên cứu chung. Chính sách này không chỉ khuyến khích Thẩm phán giỏi tham gia chia sẻ kinh nghiệm, mà còn góp phần hình thành văn hóa học thuật trong ngành Tòa án – một yếu tố cốt lõi của tư pháp hiện đại.

3.3. Ứng dụng công nghệ số và mô hình đào tạo tư pháp thông minh

Trên cơ sở yêu cầu chuyển đổi số trong ngành Tòa án, việc đào tạo nghiệp vụ cần tích hợp các công cụ công nghệ, như:

Xây dựng kho học liệu số về các tình huống pháp lý, phiên tòa mẫu, bản án điện tử;

Sử dụng hệ thống quản lý học tập trực tuyến (LMS) để hỗ trợ học viên truy cập tài liệu, nộp bài, làm bài tập tình huống từ xa;

Tăng cường các module học về tư pháp số, xét xử điện tử, bảo mật dữ liệu trong tố tụng, phù hợp với mô hình “Tòa án điện tử”.

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và yêu cầu xây dựng nền tư pháp hiện đại, việc tích hợp công nghệ số vào đào tạo nghiệp vụ xét xử trở thành xu thế tất yếu. Chuyển đổi số trong ngành Tòa án không chỉ là yêu cầu về kỹ thuật quản lý, mà còn là thay đổi phương thức tiếp cận công lý và nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Theo Chỉ thị số 02/CT‑CA ngày 15/1/2024. Chánh án TANDTC đã ban hành Chỉ thị về đẩy mạnh chuyển đổi số và xây dựng Tòa án điện tử, trong đó quy định[8]:

- Hạ tầng kỹ thuật số phải được nâng cấp toàn diện;

- Quy trình nghiệp vụ phải được số hóa (sổ nghiệp vụ số, chữ ký số, bản án điện tử…);

- Thiết lập khung kiến trúc Tòa án điện tử và bộ tiêu chí đánh giá mức độ chuyển đổi số;

- Cử cán bộ đi đào tạo về an ninh mạng và ICT;

- Kết nối dịch vụ tư pháp số với Cổng Dịch vụ công Quốc gia

Hội nghị định hướng 3/4/2025 TANDTC tổ chức hội nghị triển khai “Tòa án điện tử đến năm 2030”, quán triệt Nghị quyết 57‑NQ/TW của Bộ Chính trị và kế hoạch chuyển đổi số 2025:

- Thành lập Ban chỉ đạo chuyển đổi số với Chánh án làm Trưởng ban;

- Xây dựng hạ tầng dữ liệu, tích hợp hồ sơ, tố tụng trực tuyến, bảo mật, chia sẻ dữ liệu với cơ sở dữ liệu quốc gia[9].

Trên cơ sở đó, mô hình đào tạo nghiệp vụ xét xử cần từng bước phát triển theo hướng đào tạo tư pháp thông minh, lấy người học làm trung tâm, sử dụng công nghệ để tăng tính tương tác, thực hành và hiệu quả tiếp thu. Trước tiên, cần xây dựng kho học liệu số bao gồm các tình huống pháp lý giả định, video phiên tòa mẫu, án lệ số hóa, và hệ thống bản án – quyết định đã được công bố hợp pháp. Kho học liệu này không chỉ giúp học viên ôn luyện, tự học mà còn tạo điều kiện cho việc phân tích, đối chiếu, phát triển tư duy pháp lý tình huống – năng lực cốt lõi của Thẩm phán hiện đại.

Bên cạnh đó, cần triển khai hệ thống quản lý học tập trực tuyến (LMS) để hỗ trợ toàn bộ quy trình học tập từ đăng ký môn học, truy cập tài liệu, thảo luận trực tuyến, nộp bài tập, làm bài kiểm tra cho đến phản hồi đánh giá. Mô hình LMS đang được ứng dụng thành công tại các trường đại học luật lớn và cả trong hệ thống đào tạo tư pháp của nhiều quốc gia như Hàn Quốc, Singapore, Nhật Bản...

Đặc biệt, trong nội dung đào tạo, cần tăng cường các mô-đun học về tư pháp số, như kỹ năng điều hành xét xử trực tuyến, quản lý tài liệu số, bảo mật dữ liệu trong quá trình tố tụng, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích bản án... Những nội dung này không chỉ đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa tư pháp mà còn chuẩn bị cho học viên khả năng thích ứng với bối cảnh xét xử điện tử, đảm bảo quyền con người trong môi trường số. Đây cũng là yêu cầu đã được Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) đặt ra trong quá trình xây dựng và triển khai chiến lược phát triển mang tính hệ thống hóa dài hạn, gắn liền với mục tiêu phát triển “Tòa án điện tử” và hướng tới mô hình “Tòa án thông minh” theo tinh thần cải cách tư pháp đến năm 2030, định hướng đến năm 2045.[10]

Tóm lại, việc ứng dụng công nghệ số vào đào tạo nghiệp vụ xét xử không đơn thuần là trang bị công cụ, mà là sự chuyển đổi mô hình giáo dục pháp luật theo hướng linh hoạt, cá thể hóa, tích hợp thực tiễn, chuẩn hóa kỹ năng tư pháp hiện đại. Đào tạo tư pháp thông minh, do đó, không chỉ là yêu cầu bắt buộc của cải cách tư pháp, mà còn là giải pháp dài hạn để phát triển đội ngũ Thẩm phán đủ năng lực đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên số.

3.4. Nâng cao năng lực tự học, tự đào tạo của công chức là nguồn Thẩm phán

Để thích ứng với thực tiễn xét xử thay đổi nhanh chóng, nguồn Thẩm phán cần có năng lực tự học và học tập suốt đời. Do đó, chương trình đào tạo cần:

Trong bối cảnh thực tiễn xét xử đang không ngừng biến động – từ sự xuất hiện của các dạng tranh chấp mới như tranh chấp trên không gian mạng, tài sản số, sở hữu trí tuệ, đến yêu cầu áp dụng án lệ, pháp luật quốc tế và chuyển đổi số trong tố tụng – việc đào tạo một đội ngũ Thẩm phán đáp ứng tốt các đòi hỏi mới không thể chỉ dừng lại ở việc trang bị kiến thức pháp lý cố định. Thẩm phán ngày nay, và đặc biệt là công chức là nguồn Thẩm phán, cần được trang bị năng lực tự học và học tập suốt đời, được xem như một phẩm chất nghề nghiệp cốt lõi trong nền tư pháp hiện đại.

Năng lực tự học không chỉ là khả năng tìm kiếm và cập nhật tri thức pháp lý mới mà còn bao gồm tư duy phản biện, năng lực phân tích và xử lý thông tin, kỹ năng học hỏi từ thực tiễn và từ chính những sai sót trong nghề. Vì vậy, chương trình đào tạo cần phải thiết kế theo hướng học tập chủ động và có định hướng phát triển năng lực lâu dài. Một trong những phương pháp hiệu quả là học theo dự án và học theo nhóm, nơi học viên được giao nhiệm vụ xử lý vụ việc giả định, phân công vai trò theo nhóm và phải tự nghiên cứu các vấn đề pháp lý phát sinh. Hình thức này thúc đẩy việc học tích cực, tư duy hệ thống và phát triển kỹ năng tranh luận, phản biện là những kỹ năng thiết yếu trong hoạt động xét xử.

Đặc biệt, việc tổ chức thi đua viết bản án, xây dựng hồ sơ vụ án mô phỏng không chỉ giúp học viên luyện tập kỹ năng tư duy xét xử mà còn giúp họ rèn luyện khả năng lập luận tư pháp, kỹ thuật soạn thảo văn bản tố tụng, và nâng cao sự nhạy cảm pháp lý. Đây là một bước chuyển từ học thụ động sang thực hành chuyên sâu. Tại nhiều cơ sở đào tạo tư pháp tiên tiến như Singapore Judicial College hay École Nationale de la Magistrature (Pháp), hoạt động mô phỏng vụ án – thậm chí cả “phán xử mô phỏng” (mock trials) – đã trở thành mô hình đào tạo bắt buộc nhằm gắn kết chặt chẽ giữa học thuật và thực tiễn nghề nghiệp.

Song song với đó, học viên cần được khuyến khích tiếp cận các nguồn học pháp lý mở, tiêu biểu như hệ thống cơ sở dữ liệu pháp luật trực tuyến Vietnam Law & Legal Database, Thư viện pháp luật, Hệ thống công bố bản án – quyết định của TANDTC, chuyên san của ngành Tòa án… Việc sử dụng thành thạo những công cụ này không chỉ tăng cường khả năng tiếp cận thông tin pháp lý, mà còn hình thành kỹ năng tra cứu, phân tích và đánh giá văn bản một cách chuyên nghiệp – yếu tố nền tảng trong mọi hoạt động tố tụng.

Trong thời đại “bùng nổ thông tin pháp lý”, năng lực tìm kiếm, đánh giá và xử lý thông tin trở thành năng lực cốt lõi của Thẩm phán. Bản chất của hoạt động xét xử hiện đại không chỉ là áp dụng máy móc quy định pháp luật, mà còn là chọn lọc, diễn giải và cân nhắc giữa các nguồn pháp lý (pháp luật thành văn, án lệ, học thuyết, thực tiễn xét xử…). Do đó, việc tích hợp kỹ năng học pháp lý suốt đời ngay trong chương trình đào tạo là điều kiện tiên quyết để hình thành một đội ngũ Thẩm phán bản lĩnh, thích ứng và độc lập.

Phát triển năng lực tự học và học tập suốt đời cho công chức là nguồn Thẩm phán không chỉ là cải tiến phương pháp sư phạm, mà còn là sự chuyển đổi định hướng đào tạo: từ người tiếp thu tri thức sang người làm chủ tri thức. Đây là nền tảng quan trọng để bảo đảm hiệu quả xét xử trong dài hạn và hiện thực hóa mục tiêu xây dựng một nền tư pháp độc lập, chuyên nghiệp và phục vụ nhân dân.

3.5. Xây dựng cơ chế phối hợp giữa Học viện Tòa án và các Tòa án địa phương

Việc phối hợp giữa cơ sở đào tạo và nơi sử dụng lao động là điều kiện để đảm bảo chất lượng đầu ra. Theo đó, cần:

Xây dựng chương trình “thực hành xét xử có giám sát” tại Tòa án nhân dân các cấp, trong đó học viên được phân công nghiên cứu hồ sơ thực tế dưới sự hướng dẫn của Thẩm phán;

Lấy ý kiến của các Chánh án Tòa án địa phương về chất lượng và yêu cầu đối với công chức nguồn Thẩm phán để cập nhật chương trình đào tạo;

Thiết lập cơ chế đánh giá liên kết: cả giảng viên và Thẩm phán hướng dẫn tại địa phương cùng chấm điểm năng lực người học;

Tổ chức lớp đào tạo theo đặt hàng cụ thể của địa phương, đặc biệt với các địa phương có khối lượng công việc lớn, yêu cầu kỹ năng đặc thù (Tòa hành chính, Tòa lao động, Tòa kinh tế…).

3.6. Hoàn thiện cơ sở pháp lý về đào tạo nghiệp vụ xét xử

Hiện nay, quy định pháp luật về đào tạo nghiệp vụ còn phân tán, thiếu thống nhất, gây khó khăn cho việc tổ chức triển khai. Do đó, cần: (i) Ban hành Nghị định hoặc Thông tư liên tịch về tổ chức đào tạo nghiệp vụ xét xử; (ii) Quy định cụ thể khung chương trình đào tạo, tiêu chuẩn đầu ra, quy trình đánh giá năng lực người học theo hướng tiếp cận năng lực hành nghề; (iii) Xây dựng hệ thống kiểm định chất lượng đào tạo tư pháp có sự tham gia của các cơ quan độc lập như Hội Luật gia Việt Nam, Viện Kiểm sát tối cao; (iv) Việc hoàn thiện pháp luật cần thống nhất với các quy định trong Luật Giáo dục nghề nghiệp, Luật Công chức, Luật Tổ chức TAND, đảm bảo tính khả thi và minh bạch trong tổ chức đào tạo nghiệp vụ xét xử.

Trong bối cảnh cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc nâng cao chất lượng đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán không chỉ là yêu cầu chuyên môn, mà còn là yêu cầu chính trị - pháp lý cấp bách. Những hạn chế hiện nay trong nội dung, phương pháp, mô hình đào tạo cần được khắc phục triệt để thông qua một loạt giải pháp đồng bộ: đổi mới chương trình, nâng cao năng lực giảng viên, ứng dụng công nghệ, hoàn thiện pháp lý và cải tiến mô hình tổ chức đào tạo.

Việc tổ chức đào tạo nghiệp vụ xét xử phải hướng tới xây dựng đội ngũ Thẩm phán đủ bản lĩnh chính trị, vững kiến thức pháp lý, tinh thông nghiệp vụ, có đạo đức nghề nghiệp, có năng lực xét xử các vụ án phức tạp trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số tư pháp. Đây chính là điều kiện cần thiết và không thể thiếu để khẳng định vai trò trung tâm của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền và bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân.

 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Lê Mai Anh (Chủ nhiệm, 2017), Thí điểm mô hình đào tạo chung ba chức danh Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư dành cho thí sinh tự do tại Học viện Tư pháp, Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở - Học viện Tư pháp, Hà Nội

2.     Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày2-6-2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

3.     Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

4.     Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

5.     Bộ Chính trị, Nghị quyết số 59-NQ/TW Ngày 24/1/2025, về “Hội nhập quốc tế trong tình hình mới”

6.     Ban chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân

7.     Bộ Giáo dục Đào tạo (2005), Đề án Đổi mới giáo dục ViệtNam.

8.     Bộ Tư pháp (2007), Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương, Đề tài khoa học cấpBộ.

9.     Bộ Tư pháp (2008), Phương pháp đào tạo các chức danh Tư pháp năm 2009-Bộ Tư pháp, (Khảo sát tháng 3/2008), Đề tài khoa học cấp Bộ.

10.  Nguyễn Hoà Bình (chủ biên 2019), Xây dựng Toà án nhân dân xứng đáng là biểu tượng của công lý, lẽ phải và niềm tin, Nxb Chính trị Quốc Gia sự thật, Hà Nội

11.  Nguyễn Hoà Bình (chủ biên 2022), Cải cách tư pháp tại Toà án nhân dân Việt Nam trong giai đoạn mới, Nxb Chính trị Quốc Gia sự thật, Hà Nội

12.  Nguyễn Hòa Bình, “Xây dựng đội ngũ cán bộ Tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế”, Tạp chí Cộng sản, Số 887, tháng 9/2016 (Tr.14-19).

13.   Nguyễn Hòa Bình (2018), “Trau dồi phẩm chất đạo đức Thẩm phán, tăng cường liêm chính tư pháp”, Tạp chí Tòa án nhân dân, Số tháng 9, năm 2018



** TS. Nguyễn Minh Sử, Phó Giám đốc Học viện Toà án

* TS. Hoàng Văn Toàn, Giảng viên, Phó Trưởng Phòng Đào tạo và Khảo thí, Học viện Toà án

[1] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới

[3] Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới

[4] Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

[5] Khải Hoàn, Chuyển đổi số ngành Tòa án nhân dân năm 2025, https://tapchitoaan.vn/chuyen-doi-so-nganh-toa-an-nhan-dan-nam-202513142.html, truy cập ngày 25/6/2025

[6]Nghị quyết số 66-NQ/TW, ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, Mục Ill. 5

[7] Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân, Mục I.1

[8] GS.TS Nguyễn Hoà Bình (Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án TANDTC), Xây dựng Tòa án điện tử - một nhiệm vụ quan trọng của chiến lược cải cách tư pháp, https://tapchitoaan.vn/xay-dung-toa-an-dien-tu-mot-nhiem-vu-quan-trong-cua-chien-luoc-cai-cach-tu-phap5767.html

[9] Khải Hoàn, Chuyển đổi số ngành Tòa án nhân dân năm 2025, https://tapchitoaan.vn/chuyen-doi-so-nganh-toa-an-nhan-dan-nam-202513142.html, truy cập 24/6/2025


In Trang | Đóng cửa sổ