URL: http://vca.edu.vn/portal/page/portal/hvta/27676686/27677461?pers_id=28346379&item_id=320653921&p_details=1
 
Một số yêu cầu đối với đào tạo NVXX cho công chức trong Hệ thống TAND đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam trong giai đoạn mới
07/07/2025-08:19:00 AM
 
 TS

TS. Nguyễn Minh Sử*

TS. Hoàng Văn Toàn*

Tóm tắt: Trong khuôn khổ bài viết, tác giả tập trung phân tích có hệ thống những định hướng lớn được thể hiện trong năm nghị quyết quan trọng của Đảng gồm: Nghị quyết số 27-NQ/TW (2022) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam; Nghị quyết 57-NQ/TW (2024) về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết 59-NQ/TW (2025) về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết 66-NQ/TW (2025) về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; và Nghị quyết 68-NQ/TW (2025) về phát triển kinh tế tư nhân. Trên cơ sở kế thừa và tiếp thu tinh thần chỉ đạo của Đảng trong các nghị quyết nêu trên, bài viết làm rõ các yêu cầu cấp thiết đặt ra đối với công tác đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán trong hệ thống Tòa án nhân dân. Đây không chỉ là yêu cầu chuyên môn đơn thuần mà còn là một nhiệm vụ chính trị - pháp lý có ý nghĩa chiến lược nhằm xây dựng đội ngũ Thẩm phán có bản lĩnh chính trị, tinh thông pháp luật, thành thạo kỹ năng số, hiểu biết pháp luật quốc tế, và có khả năng giải quyết hiệu quả các tranh chấp trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Qua đó, bảo đảm cho Tòa án thực sự trở thành trung tâm của quyền tư pháp, là trụ cột trong tiến trình hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện đại, dân chủ, nhân văn và hội nhập sâu rộng.

Từ khoá: Cải cách tư pháp, đào tạo công chức, nguồn Thẩm phán

 

Đặt vấn đề

Xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một chủ trương nhất quán, xuyên suốt trong tư duy chỉ đạo và hành động của Đảng ta, thể hiện quyết tâm chính trị trong việc tổ chức và vận hành quyền lực nhà nước trên cơ sở pháp luật, vì con người, do con người và phục vụ con người. Trong tiến trình ấy, Tòa án nhân dân với tư cách là cơ quan thực hiện quyền tư pháp, đã và đang ngày càng khẳng định vị trí then chốt, là “trung tâm bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa”. Vai trò này không ngừng được củng cố, nhất là trong bối cảnh Đảng và Nhà nước ta đặc biệt nhấn mạnh đến yêu cầu cải cách tư pháp sâu rộng, xây dựng Tòa án nhân dân thực sự là biểu tượng của niềm tin vào công lý và luật pháp.

Một trong những điều kiện tiên quyết để thực hiện hiệu quả quyền tư pháp, đảm bảo cho Tòa án nhân dân hoàn thành tốt chức năng của mình, chính là chất lượng đội ngũ Thẩm phán là chủ thể trực tiếp thực thi quyền lực tư pháp. Trong đó, việc đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán đóng vai trò cực kỳ quan trọng, là mắt xích đầu tiên để hình thành một đội ngũ Thẩm phán có bản lĩnh, chuyên môn, đạo đức và tư duy pháp lý sắc sảo, đáp ứng yêu cầu của thời đại.

Trong bối cảnh yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán trong hệ thống Tòa án nhân dân cần được đổi mới mạnh mẽ. Trên cơ sở phân tích các yêu cầu đặt ra đối với công tác đào tạo này, dưới ánh sáng của 5 nghị quyết quan trọng gần đây của Bộ Chính trị: Nghị quyết số 27-NQ/TW (2022), Nghị quyết 57-NQ/TW (2024), Nghị quyết 59-NQ/TW (2025), Nghị quyết 66-NQ/TW (2025), và Nghị quyết 68-NQ/TW (2025). “Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh, sau gần 40 năm kiên trì thực hiện công cuộc Đổi mới, đất nước ta đã đạt những thành tựu to lớn, có thể nói là những thành tựu vĩ đại: Kinh tế tăng trưởng liên tục, đời sống nhân dân được nâng cao, vị thế quốc tế không ngừng được củng cố. Chúng ta có quyền tự hào, nhưng cũng phải thẳng thắn nhìn nhận, phía trước còn nhiều thách thức gay gắt, đòi hỏi chúng ta không được chủ quan, không được ngủ quên bên vòng nguyệt quế, không được chậm trễ, càng phải không ngừng đổi mới, cải cách, phát huy mọi nguồn lực và động lực trong xã hội, trong nhân dân, triển khai một cách sâu sắc, toàn diện, quyết liệt, quyết tâm đạt được mục tiêu lớn đã đề ra.”[1] Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh: “Bốn Nghị quyết quan trọng[2] của Bộ Chính trị ban hành trong thời gian gần đây sẽ là những trụ cột thể chế nền tảng, tạo động lực mạnh mẽ đưa đất nước ta tiến lên trong kỷ nguyên mới, hiện thực hóa tầm nhìn Việt Nam phát triển, thu nhập cao vào năm 2045”[3].

Và chính trong tinh thần đó, Tổng Bí thư tiếp tục khẳng định: “Bốn Nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị ban hành trong thời gian gần đây sẽ là những trụ cột thể chế nền tảng, tạo động lực mạnh mẽ đưa đất nước ta tiến lên trong kỷ nguyên mới, hiện thực hóa tầm nhìn Việt Nam phát triển, thu nhập cao vào năm 2045”.

Trên cơ sở nhận thức rõ vai trò trung tâm của Tòa án trong thiết chế quyền lực nhà nước và yêu cầu đổi mới toàn diện nền tư pháp, bài viết tập trung làm rõ các quan điểm được thể hiện trong các nghị quyết nêu trên, từ đó chỉ ra các yêu cầu cụ thể và đề xuất giải pháp đối với công tác đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán nhằm góp phần xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân[4], vì một Nhà nước pháp quyền Việt Nam vững mạnh trong kỷ nguyên mới.

 

1. Yêu cầu từ Nghị quyết số 27-NQ/TW (2022) đặt ra yêu cầu đối với đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII là một dấu mốc quan trọng trong việc tiếp tục cụ thể hóa chủ trương xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Trong hệ thống tư pháp quốc gia, Tòa án giữ vai trò trung tâm trong thực thi quyền tư pháp. Do đó, chất lượng của đội ngũ Thẩm phán – chủ thể trực tiếp thực hiện nhiệm vụ xét xử – là một nhân tố quyết định thành công của cải cách tư pháp và hiệu lực của Nhà nước pháp quyền. Từ góc độ này, yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán không chỉ là vấn đề chuyên môn, mà còn là một nhiệm vụ có ý nghĩa chính trị – pháp lý mang tầm chiến lược. Trước hết, Nghị quyết số 27 xác định rõ yêu cầu chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa đội ngũ Thẩm phán. Đây là định hướng cốt lõi phản ánh tầm nhìn toàn diện về xây dựng đội ngũ tư pháp – không chỉ đạt về trình độ chuyên môn, mà còn cần đạt chuẩn về phẩm chất đạo đức, bản lĩnh nghề nghiệp và năng lực phục vụ công lý. Nghị quyết khẳng định mục tiêu: “Hoàn thành cơ bản việc xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của tổ chức, cá nhân[5]. Đồng thời cũng đưa ra giải pháp: “Phát triển nhân lực tư pháp đủ số lượng, bảo đảm chất lượng, có cơ cấu hợp lý. Nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực tư pháp; rà soát, sắp xếp hợp lý các cơ sở đào tạo cử nhân luật. Xác định rõ hệ tiêu chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp, kiến thức pháp luật, kinh tế, xã hội và kinh nghiệm thực tiễn đối với từng chức danh, nhân lực tư pháp”[6].

Với định hướng đó, việc đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán cần được đặt trong tổng thể hệ thống đào tạo nguồn nhân lực tư pháp theo chuẩn mực hiện đại. Không thể tiếp tục duy trì cách thức đào tạo theo hướng ngắn hạn, bổ sung kiến thức đơn lẻ. Thay vào đó, chương trình đào tạo cần thiết kế có tính hệ thống, tích hợp giữa kiến thức pháp luật chuyên ngành, kỹ năng xét xử thực tiễn, khả năng tư duy pháp lý độc lập và năng lực thích ứng với các thách thức mới của xã hội, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số tư pháp. Việc đào tạo không chỉ nhằm trang bị “tri thức nghề nghiệp” mà còn phải hình thành “năng lực tư pháp” toàn diện, phản ánh được bản chất công lý của hoạt động xét xử. Đặc biệt, Nghị quyết đã chỉ rõ giải pháp mang tính tổng thể và lâu dài nhằm phát triển nhân lực tư pháp đủ số lượng, bảo đảm chất lượng, có cơ cấu hợp lý. Nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực tư pháp; rà soát, sắp xếp hợp lý các cơ sở đào tạo cử nhân luật. Xác định rõ hệ tiêu chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, trách nhiệm nghề nghiệp, kiến thức pháp luật, kinh tế, xã hội và kinh nghiệm thực tiễn đối với từng chức danh, nhân lực tư pháp.

Từ định hướng trên, chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử cần được thiết kế dựa trên các nguyên tắc: (i) xác định chuẩn đầu ra gắn với tiêu chuẩn Thẩm phán; (ii) xây dựng nội dung đào tạo tích hợp liên ngành (pháp luật, đạo đức công vụ, kỹ năng số, tâm lý học tư pháp...); (iii) đổi mới phương pháp đào tạo theo hướng thực tiễn, tương tác, mô phỏng xét xử; và (iv) thiết lập cơ chế giám sát, đánh giá chất lượng đào tạo dựa trên kết quả thực hành nghiệp vụ. Như vậy, đào tạo nghiệp vụ không chỉ còn là giai đoạn chuyển tiếp trước khi bổ nhiệm, mà trở thành quá trình “hình thành bản sắc nghề nghiệp Thẩm phán” ngay từ trong quá trình đào tạo nguồn Thẩm phán.

Bên cạnh đó, cần lưu ý rằng đội ngũ công chức là nguồn Thẩm phán không phải là “tờ giấy trắng”, mà đã có trải nghiệm thực tiễn trong ngành Tòa án. Vì vậy, chương trình đào tạo cần phát huy được kinh nghiệm thực tiễn xét xử, đồng thời khắc phục những điểm yếu về tư duy pháp lý độc lập, kỹ năng nghị án, khả năng lập luận pháp lý và đạo đức nghề nghiệp. Việc xây dựng chương trình cũng cần dựa trên sự phối hợp chặt chẽ giữa Học viện Tòa án, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan nghiên cứu lý luận pháp luật, để bảo đảm tính thống nhất về mục tiêu, tính thực tiễn về nội dung và tính bền vững trong kết quả.

Tóm lại, Nghị quyết số 27-NQ/TW đã đưa ra những định hướng hết sức sâu sắc và toàn diện, làm rõ vai trò trung tâm của Tòa án trong Nhà nước pháp quyền, đồng thời xác lập chuẩn mực nghề nghiệp của Thẩm phán trong kỷ nguyên cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế. Việc tổ chức đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán nếu được triển khai đúng định hướng của Nghị quyết sẽ là tiền đề vững chắc để hình thành đội ngũ Thẩm phán hiện đại, công tâm, tinh thông nghiệp vụ và đủ năng lực thực hiện sứ mệnh bảo vệ công lý, quyền con người, pháp chế và lợi ích của nhân dân, đất nước trong giai đoạn mới.

2. Yêu cầu từ Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 đối với đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán

Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là một văn kiện có tính chất chiến lược, định hình tư duy phát triển đất nước trong thời đại công nghệ số. Đây không chỉ là nghị quyết dành riêng cho lĩnh vực khoa học công nghệ, mà còn mang ý nghĩa cải cách thể chế, cải cách hành chính và cải cách tư pháp. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với toàn bộ hệ thống cơ quan công quyền, trong đó Tòa án nhân dân là một trong những thiết chế chịu tác động sâu sắc nhất.

Chuyển đổi số trong ngành Tòa án nhân dân không đơn thuần là ứng dụng công nghệ để hiện đại hóa thủ tục hành chính, mà là quá trình tái thiết mô hình hoạt động tư pháp trên nền tảng dữ liệu số, công nghệ thông minh và năng lực xử lý số hóa của đội ngũ cán bộ. Do đó, việc đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán trong giai đoạn hiện nay không thể tách rời mục tiêu phát triển “Tòa án điện tử” và “Tư pháp số”. Đây là xu thế tất yếu, là biểu hiện cụ thể của việc cụ thể hóa tinh thần đổi mới tư pháp trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia đã và đang diễn ra.

Nghị quyết số 57 đã xác lập định hướng chiến lược rất rõ: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 57-NQ/TW với quan điểm chỉ đạo: “Phát triển hạ tầng, nhất là hạ tầng số, công nghệ số trên nguyên tắc "hiện đại, đồng bộ, an ninh, an toàn, hiệu quả, tránh lãng phí"; làm giàu, khai thác tối đa tiềm năng của dữ liệu, đưa dữ liệu thành tư liệu sản xuất chính, thúc đẩy phát triển nhanh cơ sở dữ liệu lớn, công nghiệp dữ liệu, kinh tế dữ liệu”. Đồng thời nghị quyết cũng đề ra mục tiêu: “Phát triển Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số, công nghiệp văn hoá số đạt mức cao của thế giới. Việt Nam thuộc nhóm các nước dẫn đầu về an toàn, an ninh không gian mạng, an ninh dữ liệu và bảo vệ dữ liệu”[7].

Từ định hướng trên, có thể khẳng định rằng việc phát triển đội ngũ Thẩm phán trong giai đoạn hiện nay không thể chỉ dựa trên yêu cầu chuyên môn pháp lý truyền thống mà còn phải tích hợp yêu cầu về năng lực công nghệ số, kỹ năng sử dụng dữ liệu tư duy sáng tạo thích ứng với không gian tư pháp điện tử. Đây chính là nền tảng để xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp có năng lực hoạt động trong môi trường số hóa, xử lý hiệu quả các tình huống mới như chứng cứ điện tử, dữ liệu số, xét xử trực tuyến, bảo mật thông tin phiên tòa và năng lực vận hành hệ thống hỗ trợ ra quyết định bằng trí tuệ nhân tạo.

Trên thực tế, hoạt động của Tòa án nhân dân hiện nay đã dần chuyển sang mô hình quản lý hiện đại, đặc biệt trong các khâu thụ lý vụ án, quản lý hồ sơ điện tử, chuẩn bị xét xử, công khai bản án, xét xử trực tuyến… Tất cả các khâu này đều đòi hỏi sự thành thạo về công nghệ, khả năng khai thác, phân tích, xử lý và lưu trữ dữ liệu một cách hiệu quả. Chính vì vậy, chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán cần được cải tiến toàn diện theo hướng tích hợp công nghệ. Việc học tập không chỉ dừng lại ở giảng đường mà phải kết hợp với thực hành qua phần mềm nghiệp vụ, tình huống mô phỏng xử lý dữ liệu tư pháp, kỹ năng làm việc trên nền tảng xét xử số.

Cụ thể, chương trình đào tạo cần đưa vào các nội dung thiết yếu như: quản lý hồ sơ điện tử, kỹ năng tiếp cận và sử dụng dữ liệu số trong hoạt động tố tụng, xét xử trực tuyến, bảo mật dữ liệu tư pháp và an ninh mạng trong hoạt động Tòa án. Đây không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà còn là tiêu chí phản ánh năng lực thực tế của người học trong môi trường công tác mới. Bên cạnh đó, năng lực vận hành phần mềm nghiệp vụ ngành Tòa án, khả năng lập luận pháp lý trên cơ sở dữ liệu số hóa, cũng cần được đưa vào quy trình đánh giá kết quả đầu ra, thay vì chỉ dựa vào kiểm tra lý thuyết.

Đặc biệt, trước yêu cầu “Xây dựng tòa án điện tử - một nhiệm vụ quan trọng của Chiến lược cải cách tư pháp”. Chánh án TAND tối cao khẳng định: Đẩy nhanh quá trình chuyển đổi số và xây dựng tòa án điện tử là nhiệm vụ cấp thiết, là cơ hội để ngành tòa án nước ta tiếp tục nâng cao niềm tin vào công lý của người dân, nâng cao hiệu quả hoạt động và xây dựng tòa án hiện đại. Công cuộc chuyển đổi số và xây dựng tòa án điện tử sẽ tạo ra những giá trị to lớn, đóng góp quan trọng vào thành công của Chiến lược cải cách tư pháp nước ta [8]. Do đó, việc trang bị năng lực số cho công chức là nguồn Thẩm phán cần được xem là điều kiện tiên quyết để bổ nhiệm trong thời gian tới. Đào tạo không chỉ nhằm thích nghi với công nghệ, mà còn phải hình thành được tư duy pháp lý sáng tạo trong môi trường dữ liệu – nơi mà luật sư, Thẩm phán và công dân cùng sử dụng dữ liệu mở, bản án điện tử, và xử lý tình huống qua nền tảng số hóa. Điều này đòi hỏi chương trình đào tạo không thể theo kiểu truyền thống, mà cần tích hợp các phương thức như: học liệu số, lớp học mô phỏng, phiên tòa thực hành trên phần mềm, thẩm tra chứng cứ điện tử trên giao diện trực tuyến.

Tóm lại, tinh thần của Nghị quyết 57-NQ/TW không chỉ đặt ra yêu cầu công nghệ đối với hệ thống quản lý nhà nước mà còn hàm chứa định hướng đổi mới sâu sắc đối với hoạt động tư pháp, trong đó đào tạo nguồn nhân lực Thẩm phán là một mắt xích đặc biệt quan trọng. Việc trang bị cho công chức là nguồn Thẩm phán năng lực làm việc trong môi trường số, tư duy pháp lý sáng tạo, sử dụng công cụ số để phân tích, xét xử và ra quyết định, chính là cách để hệ thống Toà án nhân dân hiện thực hóa mục tiêu “chuyển đổi số tư pháp”, nâng cao chất lượng và hiệu quả bảo vệ công lý trong kỷ nguyên số.

3. Yêu cầu từ Nghị quyết số 59-NQ/TW (2025), ngày 24/1/2025 của Bộ Chính trị đối với đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tiếp tục là xu thế chi phối mạnh mẽ đời sống pháp lý, kinh tế và chính trị quốc tế, Nghị quyết số 59-NQ/TW ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị về “Hội nhập quốc tế trong tình hình mới” không chỉ là một chủ trương mang tính đối ngoại mà còn là “quyết sách đột phá” về thể chế, có tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống quốc gia, trong đó có lĩnh vực tư pháp. Với tinh thần lấy hội nhập làm động lực nội sinh để thúc đẩy đổi mới thể chế, nghị quyết này khẳng định rõ vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ lợi ích quốc gia, chủ quyền pháp lý và khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế thông qua hoạt động xét xử đúng pháp luật, công bằng, có trách nhiệm và chuẩn mực toàn cầu.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra đối với công tác đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán không thể tách rời khỏi tiến trình hội nhập quốc tế. Tòa án Việt Nam ngày càng phải đối mặt với các loại tranh chấp có yếu tố nước ngoài, đụng chạm đến điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, các chuẩn mực pháp lý khu vực và toàn cầu. Vì vậy, đội ngũ Thẩm phán tương lai không chỉ cần giỏi pháp luật trong nước, mà còn phải được trang bị hệ thống tri thức pháp luật quốc tế – từ luật nhân quyền, luật thương mại quốc tế, đến luật đầu tư, công pháp quốc tế, luật biển, và pháp luật khu vực ASEAN. Điều này là tiền đề để bảo đảm việc xét xử của Tòa án Việt Nam không bị “lạc hậu” trong tương quan toàn cầu hóa, đồng thời góp phần bảo vệ lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân Việt Nam trong các tranh chấp xuyên biên giới.

Nghị quyết 59 nhấn mạnh: cần “Nâng cao năng lực và bản lĩnh chính trị hội nhập quốc tế…tạo chuyển biến căn bản về chất lượng nhân lực và năng lực hội nhập quốc tế”, trong đó bao gồm đội ngũ Thẩm phán – chủ thể cốt lõi của hoạt động xét xử. Theo đó, chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán cần tích hợp nội dung về các điều ước quốc tế song phương và đa phương mà Việt Nam là thành viên, luật nhân quyền quốc tế, pháp luật thương mại quốc tế (WTO, CPTPP, RCEP), cũng như các nguyên tắc giải thích pháp luật quốc tế và kỹ năng áp dụng trong thực tiễn xét xử.

Cùng với việc cập nhật kiến thức pháp luật quốc tế, chương trình đào tạo cũng cần chú trọng rèn luyện kỹ năng tư duy pháp lý liên hệ quốc tế, kỹ năng phân tích các tranh chấp có yếu tố nước ngoài, cũng như khả năng làm việc bằng ngoại ngữ pháp lý (xây dựng các học phần chuyên biệt, tự chọn cho học viên lựa chọn). Việc hình thành “tư duy pháp lý quốc tế” nghĩa là tư duy xét xử không đóng khung trong lãnh thổ, mà đặt trong mối quan hệ tương tác giữa hệ thống pháp luật quốc gia và hệ thống pháp luật quốc tế cần trở thành một chỉ số trong đánh giá kết quả đào tạo đối với công chức là nguồn Thẩm phán.

Tóm lại, trong thời đại hội nhập sâu rộng, Tòa án không chỉ là thiết chế nội trị, mà còn là “bộ mặt pháp lý của quốc gia”. Việc đào tạo công chức nguồn Thẩm phán không thể giới hạn trong biên giới luật quốc nội, mà phải đặt trong không gian pháp lý toàn cầu. Đó chính là con đường để xây dựng đội ngũ Thẩm phán Việt Nam bản lĩnh – trí tuệ – hiện đại, đủ năng lực đồng hành cùng đất nước trong tiến trình hội nhập và phát triển bền vững.

5. Yêu cầu của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị đối với đối với đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán

Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị được đánh giá là một định hướng chiến lược, mang tính “cơ cấu lại thể chế” nhằm thúc đẩy toàn diện tiến trình phát triển quốc gia trong kỷ nguyên mới. Không chỉ giới hạn trong việc hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, Nghị quyết còn khẳng định vai trò trung tâm của hoạt động xây dựng, thi hành pháp luật trong bảo đảm hiệu lực của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh đó, đội ngũ cán bộ thực hiện quyền tư pháp, đặc biệt là Thẩm phán người trực tiếp áp dụng pháp luật trong các quan hệ xã hội cụ thể trở thành một trong những nhân tố then chốt trong việc hiện thực hóa hiệu lực của pháp luật trong thực tiễn.

Nghị quyết số 66 nhấn mạnh một thông điệp mạnh mẽ: “Công tác xây dựng và thi hành pháp luật là ‘đột phá của đột phá’ trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; là một nhiệm vụ trọng tâm của tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.” Với quan điểm đó, yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ Thẩm phán không chỉ nằm ở trình độ chuyên môn thuần túy, mà còn là bản lĩnh chính trị, năng lực tư duy độc lập, khả năng vận dụng linh hoạt pháp luật và tinh thần cải cách để thích ứng với sự vận động nhanh chóng của xã hội số và quá trình hội nhập quốc tế.

Nghị quyết đặt ra yêu cầu trực tiếp đối với hoạt động đào tạo Thẩm phán trong giai đoạn mới: “Đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán phải thực hiện mục tiêu phát triển đội ngũ Thẩm phán giải quyết, xét xử các vụ việc thuộc Thẩm quyền của Toà án nhân dân phải có trình độ, bản lĩnh, chuyên môn sâu và khả năng đổi mới, sáng tạo trong điều kiện hội nhập và chuyển đổi số.” Như vậy, không chỉ yêu cầu kiến thức pháp lý và kỹ năng nghiệp vụ, Nghị quyết còn mở rộng phạm vi năng lực cần thiết của Thẩm phán tương lai sang lĩnh vực công nghệ, tư duy sáng tạo và tư pháp toàn cầu – những yếu tố cốt lõi của nền tư pháp hiện đại.

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 66 còn xác lập một tầm nhìn cải cách tư pháp hướng đến sự đa dạng hóa các phương thức giải quyết tranh chấp: “Công tác xây dựng và thi hành pháp luật là “đột phá của đột phá” trong hoàn thiện thể chế phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới; là một nhiệm vụ trọng tâm của tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng.”, “Nghiên cứu mở rộng phạm vi và nâng cao hiệu quả áp dụng thủ tục tố tụng tư pháp rút gọn; kết hợp các phương thức phi tố tụng tư pháp với các phương thức tố tụng tư pháp; có giải pháp khuyến khích, phát triển các thiết chế giải quyết tranh chấp ngoài tòa án như trọng tài thương mại, hòa giải thương mại...”[9].  Điều này đồng nghĩa với việc đào tạo công chức là nguồn Thẩm phán cũng cần được mở rộng nội dung để bao gồm kiến thức và kỹ năng về các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế (ADR), luật trọng tài, kỹ năng hòa giải, cũng như tư duy linh hoạt trong lựa chọn công cụ giải quyết tranh chấp.

Về phương pháp đào tạo, đã đến lúc phải từ bỏ mô hình đào tạo truyền thống thiên về thuyết giảng, một chiều để chuyển sang mô hình lấy người học làm trung tâm, định hướng theo năng lực. Như bạn đã chỉ ra, cần thay đổi tư duy từ “truyền đạt kiến thức” sang “hình thành năng lực nghề nghiệp”. Điều này có nghĩa là đào tạo phải phát triển toàn diện các nhóm năng lực: năng lực phân tích tình huống, năng lực xét xử thực hành, năng lực nghị án, năng lực ứng xử đạo đức tư pháp. Các phương pháp như mô phỏng phiên tòa, tổ chức thảo luận nhóm, thực hành nghị án, đánh giá chứng cứ điện tử, quản lý hồ sơ điện tử... cần được áp dụng phổ biến và chuẩn hóa.

Cuối cùng, yêu cầu “xây dựng khung đánh giá năng lực thực hành xét xử trước khi bổ nhiệm hoặc chuyển ngạch thay cho hình thức thi tuyển chọn Thẩm phán hiện nay” là một cải cách lớn, chuyển từ đánh giá kiến thức sang đánh giá năng lực thực tế. Đây là bước đi phù hợp với xu hướng đào tạo nghề hiện đại, góp phần tạo ra đội ngũ Thẩm phán thực chất, đủ khả năng hành nghề ngay sau đào tạo – điều kiện tiên quyết để bảo đảm chất lượng thực thi quyền tư pháp trong Nhà nước pháp quyền hiện đại.

5. Yêu cầu của Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân đối với đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán

Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân là một dấu mốc mang tính chiến lược trong tư duy phát triển của Đảng ta. Lần đầu tiên, khu vực kinh tế tư nhân (KTTN) được khẳng định rõ ràng là một “động lực quan trọng nhất” của nền kinh tế quốc gia trong một nghị quyết chuyên đề cấp cao, phản ánh sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận thể chế hóa vai trò doanh nghiệp và quyền tự do kinh doanh trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ đó, đặt ra hàng loạt yêu cầu mới đối với bộ máy nhà nước, trong đó có hệ thống Tòa án – thiết chế bảo vệ công lý và bảo đảm quyền tài sản, quyền kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế.

Nghị quyết khẳng định rõ: “Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, là lực lượng tiên phong thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng xanh, tuần hoàn, bền vững; cùng với kinh tế nhà nước, kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân giữ vai trò nòng cốt để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả, đưa đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu, vươn lên phát triển thịnh vượng.”. Đây là cơ sở để xác định rằng, nếu kinh tế tư nhân là động lực thì hoạt động xét xử các tranh chấp kinh tế, tài sản chính là "điểm tựa thể chế" để bảo đảm môi trường kinh doanh công bằng, an toàn và minh bạch.

Trong bối cảnh đó, yêu cầu đối với công tác đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Tòa án không chỉ giải quyết các tranh chấp dân sự thuần túy, mà ngày càng phải đối diện với những vấn đề pháp lý kinh tế thương mại ngày càng phức tạp như hợp đồng đầu tư, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, phá sản doanh nghiệp, tranh chấp cổ đông, hay thậm chí là giải quyết mâu thuẫn giữa các chính sách kinh tế và quyền tư nhân. Điều này đòi hỏi công chức là nguồn Thẩm phán phải được chuẩn bị đầy đủ về kiến thức pháp luật kinh tế, tư duy logic thị trường và kỹ năng xử lý chứng cứ tài chính.

Do đó, chương trình đào tạo cần đổi mới mạnh mẽ về mục tiêu, nội dung và phương pháp. Trước hết, phải tăng cường các chuyên đề liên quan đến pháp luật hợp đồng, giải quyết tranh chấp dân sự – kinh tế, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, trọng tài thương mại, phá sản doanh nghiệp... nhằm giúp người học hiểu rõ bản chất và kỹ năng xét xử trong bối cảnh thị trường hóa nền tư pháp. Bên cạnh đó, cần chú trọng đến kỹ năng đánh giá chứng cứ tài chính, thẩm định thiệt hại, định giá tài sản, và khả năng lập luận pháp lý trong những tình huống xung đột lợi ích kinh tế – chính trị – xã hội.

Đặc biệt, năng lực “thấu hiểu logic hoạt động thị trường” cần được xem là một năng lực nền tảng. Không thể có Thẩm phán giỏi nếu họ không hiểu được các quy tắc vận hành, các rủi ro pháp lý và cả “tâm lý thị trường” của các chủ thể kinh doanh. Chỉ khi được trang bị năng lực như vậy, người Thẩm phán mới có thể thực hiện tốt vai trò “trọng tài công lý” trong các quan hệ tranh chấp kinh tế vốn là trụ cột của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tóm lại, Nghị quyết 68-NQ/TW không chỉ là định hướng về chính sách kinh tế, mà còn là lời cảnh tỉnh đối với công tác đào tạo Thẩm phán trong kỷ nguyên phát triển mới. Tòa án muốn thực hiện tốt sứ mệnh bảo vệ công lý trong kinh tế, thì trước hết phải có đội ngũ Thẩm phán được đào tạo bài bản, am hiểu thị trường và đủ bản lĩnh để xử lý các tranh chấp kinh tế một cách độc lập, công tâm và có trách nhiệm xã hội.

Kết luận và một số kiến nghị: Trong tiến trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc đổi mới công tác đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức là nguồn Thẩm phán không chỉ là yêu cầu tất yếu về mặt chuyên môn, mà còn là nhiệm vụ có ý nghĩa chiến lược về chính trị - pháp lý. Năm nghị quyết quan trọng của Bộ Chính trị được ban hành gần đây đã xác lập những trụ cột thể chế định hình cho tương lai đất nước, trong đó việc phát triển đội ngũ cán bộ tư pháp – nhất là Thẩm phán – trở thành một trong những nhiệm vụ trọng tâm, cấp thiết. Trước yêu cầu của cải cách tư pháp, chuyển đổi số, hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nội dung, phương pháp và mục tiêu đào tạo cần được điều chỉnh toàn diện, theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa và thực tiễn hóa. Chỉ khi đội ngũ Thẩm phán được chuẩn bị kỹ lưỡng về chuyên môn pháp lý, bản lĩnh chính trị, năng lực công nghệ và tư duy hội nhập, thì Tòa án mới thực sự trở thành thiết chế trung tâm trong việc bảo vệ công lý, quyền con người và pháp chế xã hội chủ nghĩa. Đó cũng chính là tiền đề để hiện thực hóa tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2045 vươn lên trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao, dựa trên nền tảng pháp quyền, công lý và niềm tin xã hội.

Trên cơ sở các yêu cầu từ nghị quyết nêu trên, tác giả đề xuất một số định hướng sau trong tổ chức đào tạo nghiệp vụ xét xử cho công chức ngành Tòa án: (i) Thiết kế lại chương trình đào tạo trên nền tảng khung năng lực nghề nghiệp toàn diện, bao gồm: năng lực chuyên môn, năng lực công nghệ số, năng lực hội nhập và năng lực đạo đức tư pháp. (ii) Đổi mới phương pháp đào tạo theo hướng mô hình thực hành – mô phỏng, ứng dụng chuyển đổi số, học liệu mở, phiên tòa ảo, phân tích bản án điển hình. (iii) Tăng cường liên kết quốc tế, mời chuyên gia tư pháp nước ngoài tham gia giảng dạy, nghiên cứu, tập huấn cho công chức là nguồn Thẩm phán; từng bước chuẩn hóa theo thông lệ tốt của các nền tư pháp phát triển. (iv) Thực hiện đánh giá đầu ra bằng bài thi mô phỏng nghị án, xử án; giải quyết tình huống phát sinh trong hoạt đồng giải quyết các vụ việc thuộc thẩm quyền của Toà án; kết hợp đánh giá định lượng và định tính năng lực nghiệp vụ.

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Lê Mai Anh (Chủ nhiệm, 2017), Thí điểm mô hình đào tạo chung ba chức danh Thẩm phán, Kiểm sát viên, Luật sư dành cho thí sinh tự do tại Học viện Tư pháp, Đề tài nghiên cứu cấp cơ sở - Học viện Tư pháp, Hà Nội

2.     Bộ Chính trị (2005), Nghị quyết 49-NQ/TW ngày2-6-2005 về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.

3.     Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 9/11/2022 Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

4.     Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

5.     Bộ Chính trị, Nghị quyết số 59-NQ/TW Ngày 24/1/2025, về “Hội nhập quốc tế trong tình hình mới”

6.     Ban chấp hành Trung ương ban hành Nghị quyết 68-NQ/TW ngày 4/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân

7.     Bộ Giáo dục Đào tạo (2005), Đề án Đổi mới giáo dục ViệtNam.

8.     Bộ Tư pháp (2007), Đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ công chức tư pháp địa phương, Đề tài khoa học cấpBộ.

9.     Bộ Tư pháp (2008), Phương pháp đào tạo các chức danh Tư pháp năm 2009-Bộ Tư pháp, (Khảo sát tháng 3/2008), Đề tài khoa học cấp Bộ.

10.  Nguyễn Hoà Bình (chủ biên 2019), Xây dựng Toà án nhân dân xứng đáng là biểu tượng của công lý, lẽ phải và niềm tin, Nxb Chính trị Quốc Gia sự thật, Hà Nội

11.  Nguyễn Hoà Bình (chủ biên 2022), Cải cách tư pháp tại Toà án nhân dân Việt Nam trong giai đoạn mới, Nxb Chính trị Quốc Gia sự thật, Hà Nội

12.  Nguyễn Hòa Bình, “Xây dựng đội ngũ cán bộ Tòa án nhân dân đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế”, Tạp chí Cộng sản, Số 887, tháng 9/2016 (Tr.14-19).

13.   Nguyễn Hòa Bình (2018), “Trau dồi phẩm chất đạo đức Thẩm phán, tăng cường liêm chính tư pháp”, Tạp chí Tòa án nhân dân, Số tháng 9, năm 2018



* TS. Nguyễn Minh Sư, Phó Giám đốc Học viện Toà án

* TS. Hoàng Văn Toàn, Giảng viên, Phó trưởng Phòng Đào tạo và Khảo thí, Học viện Toà án

[1] Hải Liên, Tổng Bí thư Tô Lâm: Bốn Nghị quyết đột phá là 'Bộ tứ trụ cột' đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, https://baochinhphu.vn/tong-bi-thu-to-lam-bon-nghi-quyet-dot-pha-la-bo-tu-tru-cot-dua-dat-nuoc-buoc-vao-ky-nguyen-moi-102250518122030271.htm , truy cập ngày 30/6/2025

[2] Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; Nghị quyết 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; Nghị quyết 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật; và Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân

[3] Hương Việt, Xây dựng "bộ tứ trụ cột": Mệnh lệnh từ tương lai của dân tộc, https://nhandan.vn/xay-dung-bo-tu-tru-cot-menh-lenh-tu-tuong-lai-cua-dan-toc-post886472.html, truy cập 30/6/2025

[4] GS. TS. Nguyễn Hoà Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Tiếp tục xây dựng nền tư pháp Việt Nam chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, https://tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/tiep-tuc-xay-dung-nen-tu-phap-viet-nam-chuyen-nghiep-hien-dai-cong-bang-nghiem-minh-liem-chinh-phung-su-to-quoc-phuc-vu-nhan-dan, Truy cập ngày 30/6/2025

[5] Mục 1.2, phần III – Mục tiêu trọng tâm, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII

[6] Mục 7, phần IV – Nhiệm vụ và giải pháp, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII

[7] Mục I, II, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia

[8] GS, TS. Nguyễn Hoà Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Xây dựng tòa án điện tử - một nhiệm vụ quan trọng của Chiến lược cải cách tư pháp, https://www.tapchicongsan.org.vn/media-story/-/asset_publisher/V8hhp4dK31Gf/content/xay-dung-toa-an-dien-tu-mot-nhiem-vu-quan-trong-cua-chien-luoc-cai-cach-tu-phap, truy cập ngày 30/6/2025

[9] Xem thêm: Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới


In Trang | Đóng cửa sổ