URL: http://vca.edu.vn/portal/page/portal/hvta/27676686/27677461?pers_id=28346379&item_id=319564539&p_details=1
 
Thực trạng và định hướng nghiên cứu, giáo dục, đào tạo quyền con người ở Việt Nam
02/06/2025-04:18:00 AM
 
 ThS

ThS. Phạm Như Hưng[1]

ThS. Nguyễn Ngọc Ánh[2]

         

Tóm tắt

Bài viết tập trung phân tích thực trạng và định hướng phát triển hoạt động nghiên cứu, giáo dục và đào tạo quyền con người ở Việt Nam trong bối cảnh mới. Trên cơ sở tổng hợp các chính sách quốc gia, cam kết quốc tế và thực tiễn triển khai tại nhiều cấp độ, bài viết chỉ ra những thành tựu bước đầu, những hạn chế còn tồn tại và nhu cầu cấp thiết phải đổi mới tư duy, tiếp cận toàn diện hơn trong giáo dục quyền con người. Đặc biệt, việc thực hiện Đề án 1309/QĐ-TTg và các chủ trương của Đảng, Nhà nước như Nghị quyết 35-NQ/TW là những căn cứ chính trị – pháp lý quan trọng, định hướng cho việc xây dựng hệ sinh thái giáo dục quyền con người phù hợp với điều kiện chính trị – xã hội Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng chiến lược nhằm phát triển bền vững hoạt động nghiên cứu và đào tạo quyền con người, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển quốc gia trong thời kỳ hội nhập.

Từ khóa

Thực trạng; định hướng nghiên cứu; giáo dục, đào tạo quyền con người; hội nhập quốc tế; Đề án 1309; Nghị quyết 35-NQ/TW.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế sâu rộng, quyền con người ngày càng khẳng định vai trò là nền tảng của phát triển bền vững và toàn diện. Tại Việt Nam, quyền con người không chỉ được khẳng định trong Hiến pháp năm 2013 mà còn được cụ thể hóa trong nhiều chính sách, chiến lược và chương trình hành động của Đảng và Nhà nước. Tuy nhiên, để thực thi hiệu quả các quyền này, giáo dục, đào tạo và nghiên cứu quyền con người cần trở thành một trụ cột trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Việc đưa quyền con người vào chương trình giáo dục không chỉ là yêu cầu tất yếu trong bối cảnh hội nhập, mà còn là nhu cầu nội tại nhằm nâng cao dân trí, phát triển nhân cách, năng lực công dân và xây dựng một xã hội dân chủ, nhân văn. Bên cạnh đó, yêu cầu thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người, như Công ước ICCPR, CRC, CEDAW… cũng đòi hỏi Việt Nam phải nâng cao năng lực chuyên môn và nhận thức xã hội về các chuẩn mực nhân quyền.

Mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, hoạt động giáo dục và đào tạo quyền con người tại Việt Nam vẫn còn tồn tại nhiều khoảng trống về nội dung, phương pháp, đội ngũ giảng viên cũng như sự gắn kết giữa lý luận và thực tiễn. Chính vì vậy, việc khảo sát thực trạng, đánh giá đúng mức các điều kiện triển khai và đề xuất các định hướng phù hợp là nhiệm vụ mang tính chiến lược nhằm nâng cao chất lượng giáo dục quyền con người, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập trong giai đoạn hiện nay

GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1. Bối cảnh thực hiện nghiên cứu, giáo dục, đào tạo quyền con người ở Việt Nam hiện nay

Hiện nay, việc nghiên cứu, giáo dục và đào tạo quyền con người ở Việt Nam diễn ra trong một bối cảnh đặc biệt, với nhiều yếu tố thuận lợi và thách thức đan xen, thể hiện qua một số nội dung chủ yếu sau:

Thứ nhất, quá trình phát triển đất nước trong giai đoạn mới đang đặt ra những yêu cầu vừa cấp bách vừa lâu dài đối với công tác nghiên cứu lý luận, giáo dục và đào tạo. Trong đó, nội dung về quyền con người trở thành một bộ phận không thể tách rời, đòi hỏi phải được đầu tư một cách bài bản, khoa học và gắn liền với thực tiễn phát triển của xã hội Việt Nam hiện đại. Trong bối cảnh phát triển mới, Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức và cơ hội đan xen. Quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với yêu cầu giữ vững ổn định chính trị – xã hội, tạo ra những nhiệm vụ cấp bách về đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hệ thống pháp lý – chính trị. Những yêu cầu này không chỉ giới hạn trong lĩnh vực kinh tế hay quản trị nhà nước mà còn mở rộng tới lĩnh vực nghiên cứu lý luận, giáo dục và đào tạo, đặc biệt là quyền con người – một trụ cột quan trọng trong sự phát triển bền vững và toàn diện. Trong điều kiện đó, quyền con người không còn là một khái niệm pháp lý – chính trị mang tính trừu tượng mà trở thành nội dung thiết yếu trong giáo dục công dân, xây dựng nhà nước pháp quyền và phát triển xã hội dân chủ, văn minh. Việc đưa quyền con người vào công tác giáo dục, đào tạo và nghiên cứu không chỉ phục vụ cho mục tiêu hội nhập quốc tế, thực thi các cam kết với cộng đồng quốc tế, mà còn là nhu cầu nội tại để đáp ứng sự phát triển dân trí, nhu cầu tự do, công bằng, hạnh phúc và quyền lợi chính đáng của người dân. Việc đầu tư cho giáo dục và nghiên cứu về quyền con người cần được thực hiện một cách bài bản và khoa học, tránh hình thức, máy móc. Cần xây dựng chương trình đào tạo phù hợp với từng cấp học, ngành học; phát triển đội ngũ giảng viên có chuyên môn sâu; nghiên cứu lý luận kết hợp với khảo sát thực tiễn để xây dựng các mô hình giáo dục hiệu quả và sát với bối cảnh văn hóa, chính trị, pháp lý của Việt Nam. Đồng thời, cần gắn chặt với thực tiễn phát triển của đất nước, phản ánh đúng những vấn đề mà người dân đang quan tâm như quyền tiếp cận thông tin, quyền bình đẳng giới, quyền được sống trong môi trường trong lành, quyền học tập, quyền tự do tín ngưỡng, v.v. Qua đó, quyền con người không chỉ là lý thuyết mà trở thành một phần của đời sống chính trị – xã hội, góp phần nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và phát triển con người Việt Nam toàn diện.

Thứ hai, Việt Nam ngày càng chủ động và tích cực trong quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng trên nhiều lĩnh vực, bao gồm cả lĩnh vực quyền con người. Việc tham gia và thực hiện các cam kết quốc tế trong lĩnh vực này đòi hỏi Việt Nam phải không ngừng nâng cao nhận thức, năng lực và chuẩn mực pháp lý, thông qua các hoạt động giáo dục và đào tạo. Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam đã và đang trở thành thành viên tích cực của nhiều tổ chức quốc tế, tham gia vào các công ước, hiệp định quốc tế quan trọng liên quan đến quyền con người như: Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), Công ước về quyền trẻ em (CRC), Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ (CEDAW), v.v.. Điều này không chỉ thể hiện cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế mà còn khẳng định trách nhiệm trong việc bảo vệ, thúc đẩy quyền con người phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Tuy nhiên, để thực hiện hiệu quả các cam kết đó, Việt Nam phải đối mặt với những yêu cầu mới, bao gồm: (1) Nâng cao nhận thức của cán bộ, công chức, viên chức và người dân về quyền con người theo cả góc độ pháp lý quốc tế và thực tiễn trong nước. (2) Tăng cường năng lực xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, đảm bảo sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. (3) Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, am hiểu sâu về quyền con người để tham gia vào quá trình hoạch định chính sách, thực thi pháp luật và giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến quyền con người. Tất cả những nhiệm vụ này chỉ có thể thực hiện được thông qua việc đẩy mạnh công tác giáo dục, đào tạo và nghiên cứu chuyên sâu về quyền con người. Giáo dục không chỉ giúp nâng cao nhận thức mà còn hình thành năng lực hành động, góp phần xây dựng một xã hội tôn trọng và bảo vệ quyền con người từ gốc rễ. Hội nhập quốc tế không chỉ là quá trình tiếp nhận, mà còn là cơ hội để Việt Nam khẳng định vai trò, tiếng nói và mô hình phát triển phù hợp với điều kiện đặc thù của mình, trong đó, giáo dục quyền con người chính là một kênh chiến lược để hội nhập một cách chủ động, sáng tạo và có bản sắc

Thứ ba, việc triển khai Đề án "Đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân" theo Quyết định số 1309/QĐ-TTg ngày 5/9/2017 của Thủ tướng Chính phủ đã tạo một bước ngoặt quan trọng. Đề án đang được thực hiện trên phạm vi toàn quốc, với sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ban, ngành Trung ương và chính quyền địa phương, góp phần thúc đẩy giáo dục quyền con người từ bậc phổ thông đến đại học. Việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1309/QĐ-TTg ngày 5/9/2017 phê duyệt Đề án “Đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân” đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong chính sách giáo dục quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang tích cực hội nhập quốc tế và đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Mục tiêu xuyên suốt của Đề án là tích hợp, lồng ghép các nội dung về quyền con người một cách phù hợp, hiệu quả vào chương trình giáo dục từ cấp phổ thông đến đại học, nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết và năng lực thực hiện quyền con người cho học sinh, sinh viên – những chủ thể trung tâm của sự phát triển đất nước. Điểm nổi bật của Đề án 1309 là: (1) Phạm vi triển khai toàn quốc, bảo đảm tính bao phủ trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân; (2) Sự tham gia, phối hợp chặt chẽ giữa nhiều cơ quan như Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Tư pháp, Bộ Ngoại giao, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, cùng chính quyền các địa phương và các cơ sở giáo dục, đào tạo; (3) Nội dung giảng dạy được thiết kế phù hợp với đặc điểm từng bậc học, từng nhóm ngành đào tạo, đảm bảo sự nhất quán về mặt tư tưởng và tính thực tiễn trong triển khai; (4) Chú trọng công tác bồi dưỡng, đào tạo đội ngũ giáo viên và giảng viên về kiến thức, phương pháp và kỹ năng giảng dạy quyền con người. Sự triển khai đồng bộ của Đề án không chỉ góp phần lan tỏa kiến thức và giá trị về quyền con người trong hệ thống giáo dục mà còn góp phần hình thành văn hóa pháp quyền, ý thức tôn trọng, bảo vệ và thực hiện quyền con người ngay từ trong nhà trường – nơi đào tạo thế hệ công dân tương lai của đất nước. Qua đó, Đề án 1309 không chỉ là một chính sách giáo dục đơn thuần mà còn là một công cụ chiến lược trong việc hiện thực hóa các cam kết quốc tế của Việt Nam về quyền con người, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và văn minh.

Thứ tư, hoạt động nghiên cứu và đào tạo chuyên sâu về quyền con người đã bước đầu hình thành và phát triển tại một số cơ sở đào tạo, nghiên cứu lớn trong cả nước như Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Đại học Quốc gia Hà Nội, Học viện Ngoại giao... Những đơn vị này đang đóng vai trò trung tâm trong việc đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho công tác bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam. Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh hội nhập quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nhu cầu về nguồn nhân lực am hiểu sâu sắc, có kỹ năng chuyên môn cao trong lĩnh vực quyền con người ngày càng trở nên cấp thiết. Đáp ứng nhu cầu đó, thời gian qua, một số cơ sở đào tạo và nghiên cứu lớn đã tiên phong triển khai các chương trình đào tạo, nghiên cứu chuyên sâu về quyền con người, đóng vai trò trung tâm trong việc xây dựng nền tảng học thuật và đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh là nơi đào tạo cán bộ lý luận chính trị cao cấp cho Đảng và Nhà nước, đã tổ chức nhiều chương trình bồi dưỡng, đào tạo có lồng ghép nội dung về quyền con người, đồng thời tổ chức các hội thảo khoa học cấp quốc gia, quốc tế nhằm trao đổi và phát triển lý luận trong lĩnh vực này. Việc đưa quyền con người vào chương trình đào tạo lý luận chính trị góp phần gắn kết quyền con người với bản sắc tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa xã hội khoa học. Đại học Quốc gia Hà Nội, đặc biệt là Trường Đại học Luật và Khoa Luật của Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã phát triển nhiều đề tài nghiên cứu và chương trình đào tạo đại học, sau đại học có nội dung chuyên sâu về quyền con người. Trung tâm Nghiên cứu quyền con người của trường cũng đóng vai trò nòng cốt trong việc chuyển giao tri thức và cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định chính sách. Học viện Ngoại giao với thế mạnh về quan hệ quốc tế và luật quốc tế đã triển khai đào tạo chuyên sâu về quyền con người trong bối cảnh quốc tế, đặc biệt chú trọng các vấn đề như thực hiện các điều ước quốc tế, cơ chế kiểm điểm phổ quát (UPR), và thúc đẩy hình ảnh Việt Nam trong các diễn đàn nhân quyền toàn cầu. Các đơn vị này không chỉ dừng lại ở công tác giảng dạy, mà còn là các trung tâm học thuật, nghiên cứu lý luận và thực tiễn, hỗ trợ quá trình xây dựng chính sách và chiến lược quốc gia về quyền con người. Việc phát triển chương trình đào tạo chuyên sâu là nền tảng để hình thành đội ngũ chuyên gia, nhà nghiên cứu, nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý nhà nước về quyền con người. Đây là lực lượng then chốt giúp triển khai các chương trình hành động quốc gia, thực thi các điều ước quốc tế, đồng thời đảm nhận vai trò phản biện, cố vấn chính sách và truyền thông giáo dục về quyền con người trong xã hội. Mặc dù đã có những bước tiến đáng kể, hoạt động nghiên cứu và đào tạo chuyên sâu về quyền con người tại Việt Nam vẫn còn đối mặt với một số khó khăn như: Thiếu tài liệu học thuật chuyên sâu mang tính hệ thống; Hạn chế về đội ngũ giảng viên có trình độ chuyên môn cao; Cần tăng cường hợp tác quốc tế và trao đổi học thuật; Nhu cầu gắn kết giữa lý luận với thực tiễn còn chưa cao. Tuy nhiên, triển vọng phát triển là rất lớn khi Đảng và Nhà nước ngày càng coi trọng quyền con người như một mục tiêu phát triển bền vững; đồng thời, xã hội Việt Nam cũng ngày càng nâng cao nhận thức và nhu cầu tiếp cận kiến thức, kỹ năng về quyền con người trong các lĩnh vực đời sống

Thứ năm, Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 20/10/2018 của Bộ Chính trị về "Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới" là cơ sở chính trị quan trọng, định hướng cho việc nghiên cứu, giáo dục và đào tạo quyền con người theo định hướng đúng đắn, phù hợp với điều kiện, bối cảnh và yêu cầu phát triển của Việt Nam. Nghị quyết 35 xác định rõ: bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng là nhiệm vụ sống còn, trong đó phải kiên quyết, kiên trì đấu tranh phản bác những luận điệu xuyên tạc, sai trái về chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, việc nghiên cứu, giáo dục quyền con người ở Việt Nam phải được đặt trong hệ quy chiếu tư tưởng của Đảng, bảo đảm: Tính định hướng chính trị – tư tưởng rõ ràng, không để các quan điểm lệch lạc, xuyên tạc xâm nhập vào chương trình giảng dạy; Khẳng định sự thống nhất giữa phát triển quyền con người và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trái ngược với các luận điểm cho rằng chỉ có đa nguyên chính trị, đa đảng mới bảo đảm được quyền con người. Việc giáo dục quyền con người không thể tách rời khỏi nhiệm vụ giữ vững an ninh tư tưởng – văn hóa. Do đó, các chương trình đào tạo cần: Lồng ghép nội dung đấu tranh tư tưởng vào giảng dạy quyền con người, giúp người học phân biệt được ranh giới giữa việc thực thi quyền con người chính đáng và hành vi lợi dụng quyền con người để chống phá Nhà nước; Trang bị kỹ năng phản biện, lập luận khoa học và lập trường chính trị vững vàng, đặc biệt đối với cán bộ, đảng viên, sinh viên ngành luật, chính trị, báo chí, công an, quân đội; Tăng cường tuyên truyền, truyền thông giáo dục về quyền con người gắn với lợi ích quốc gia – dân tộc, góp phần xây dựng “lá chắn tư tưởng” trong xã hội. Triển khai Nghị quyết 35 cũng đồng nghĩa với việc nâng cao năng lực cho đội ngũ nghiên cứu, giảng viên sao cho họ không chỉ giỏi chuyên môn mà còn vững về tư tưởng, sâu về lập luận, nhạy bén trong phản bác các quan điểm sai trái. Điều này đặt ra yêu cầu mới: Phải có chương trình bồi dưỡng chuyên sâu về “quyền con người trong bối cảnh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng”; Đổi mới cách tiếp cận trong biên soạn tài liệu giảng dạy, nghiên cứu, tránh sao chép máy móc mô hình phương Tây, đồng thời làm rõ tính đặc thù, hợp hiến và hợp pháp của mô hình bảo đảm quyền con người tại Việt Nam; Thúc đẩy các công trình nghiên cứu gắn kết giữa quyền con người với ổn định chính trị, an sinh xã hội, quyền phát triển – những giá trị đặc trưng mà Việt Nam đang theo đuổi

2. Thực trạng nghiên cứu, giáo dục, đào tạo quyền con người ở Việt Nam hiện nay

Thứ nhất, Xây dựng/lồng ghép giảng dạy quyền con người trong các chương trình đào tạo, bồi dưỡng

Trên cơ sở lấy ý kiến của các Bộ, ngành và các cơ sở nghiên cứu, đào tạo, ngày 5/9/2017, Chính phủ phê duyệt Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân. Đây là đề án có ý nghĩa rất quan trọng nhằm mục tiêu tuyên truyền, phổ biến, giáo dục quyền con người nhằm tạo sự chuyển biến trong nhận thức của người học, của đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục về tầm quan trọng, ý thức tự bảo vệ các quyền của bản thân, tôn trọng nhân phẩm, các quyền và tự do của người khác; ý thức về trách nhiệm, nghĩa vụ của công dân đối với Nhà nước và xã hội, góp phần phát triển toàn diện con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển bền vững của đất nước. Đề án được xây dựng, một phần cũng nhằm thực hiện khuyến nghị về vấn đề tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức về quyền con người mà Việt Nam chấp nhận trong cả hai chu kỳ báo cáo UPR.

Cũng trong Đề án này, Chính phủ xác định mục tiêu đến năm 2025, 100% các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân tổ chức giáo dục quyền con người cho người học. Đồng thời, trên cơ sở góp ý của các cơ quan, tổ chức, cơ quan xây dựng Đề án có sự điều chỉnh phù hợp với nội dung lồng ghép giáo dục quyền con người cho phù hợp với từng cấp học, cụ thể:

Đối với học sinh tiểu học (cấp I), môn học Đạo đức bao gồm các bài học nhằm hướng dẫn các em tôn trọng người khác như: tôn trọng khách nước ngoài, tôn trọng thư từ, tài sản của người khác (lớp 3); tôn trọng phụ nữ (lớp 5)… Trong các bài học này, tuy các khái niệm cụ thể về quyền chưa được sử dụng (chẳng hạn khi nói về tôn trọng phụ nữ thì mới nêu các lý do về đạo đức, xã hội chứ chưa đề cập đền "quyền của phụ nữ") và các kiến thức, thông tin chuyển tải mới ở mức độ đơn giản, nhưng rõ ràng, thông qua các bài học kể trên, học sinh có thể hiểu được một số nguyên tắc cơ bản của quyền con người và nghĩa vụ tôn trọng các quyền con người của các nhóm đối tượng có liên quan.

Ở cấp trung học cơ sở phổ thông (cấp II), số lượng bài học về quyền con người trong chương trình học nhiều hơn, các bài học chứa đựng những kiến thức rộng và sâu hơn về quyền con người. Mặc dù vậy, tương tự như ở cấp tiểu học, các bài học về quyền con người ở cấp trung học cơ sở vẫn được thiết kế thông qua những bối cảnh sinh hoạt hàng ngày và phù hợp với nhận thức xã hội của học sinh theo từng độ tuổi, để giúp các em có thể hiểu được các khái niệm và phạm trù đôi khi khá phức tạp trên lĩnh vực này.

Trong chương trình giáo dục cấp III, môn học Giáo dục công dân mang tính lý thuyết và tính khái quát khá cao, nhiều nội dung tương đối trừu tượng so với lứa tuổi thiếu niên. Chương trình lớp 10 đề cập một số nghĩa vụ của công dân nhưng chủ yếu từ khía cạnh đạo đức (đối với cộng đồng, với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc), lớp 11 có các bài: Nhà nước XHCN (Bài 9), nền dân chủ XHCN (Bài 10). Các kiến thức về quyền con người tập trung nhiều hơn ở chương trình giáo dục công dân lớp 12. Theo đó, học sinh được tiếp cận với nhiều nội dung liên quan đến quyền công dân như bài Hiến pháp, các quyền trong lĩnh vực dân sự (trong bài Luật dân sự), các quyền trong tố tụng và một số quyền trong các lĩnh vực cụ thể như đất đai, thuế, hành chính…

Riêng với bậc học đại học, việc giảng dạy về quyền con người chủ yếu tập trung ở các trường có đào tạo chuyên ngành luật. Giáo dục nhân quyền trong các trường đại học ở Việt Nam hướng tới: hoặc mục tiêu nhằm đào tạo các chuyên gia trong lĩnh vực nhân quyền phục vụ công tác bảo vệ, thúc đẩy quyền con người trong các trường đại học đào tạo chuyên ngành luật; hoặc nhằm mục đích giáo dục về nhân quyền cho sinh viên các trường đại học để phục vụ trong các lĩnh vực khác nhau. Tại các trường đại học/cao đẳng hiện nay, quyền con người được tích hợp, lồng ghép vào một số môn học như Luật hiến pháp, Luật hành chính, Luật hình sự, Luật tố tụng hình sự, Luật công pháp quốc tế..., thậm chí có những cơ sở nghiên cứu và đào tạo xây dựng những môn học độc lập. Báo cáo cuối cùng đánh giá việc giảng dạy nhân quyền tại Học viện Ngoại giao và các trường đại học tại Việt Nam của nhóm tư vấn quốc gia vào tháng 12/2013 đã đưa ra những phân tích, đánh giá khá chi tiết về việc giảng dạy quyền con người trong các trường đại học hiện nay ở Việt Nam, như:

Khoa Luật (Đại học quốc gia Hà Nội). Đây là cơ sở đào tạo có khóa học chính thức riêng về nhân quyền. Ngoài ra, cơ sở này cũng xây dựng chương trình đào tạo thạc sỹ về nhân quyền (với sự hỗ trợ của Trung tâm nhân quyền Na-uy, thuộc Đại học Oslo)[3]

Trường Đại học Luật Hà Nội. Trườngcó một khóa học về nhân quyền thuộc chương trình giảng dạy luật quốc tế của trường (môn học tự chọn, tương đương 03 tín chỉ trong hơn 100 đơn vị học trình của chuyên ngành luật quốc tế). Bên cạnh đó, chương trình đào tạo cử nhân của Đại học Luật Hà Nội có rất nhiều môn học về luật trong nước, mà nội dung lại liên quan chặt chẽ tới khía cạnh giáo dục nhân quyền, cụ thể là môn học về luật dân sự, thủ tục tố tụng dân sự, quy định đặc biệt về xử án dân sự, luật về thi hành phán quyết dân sự, luật hôn nhân, luật sở hữu trí tuệ, luật về bồi thường của nhà nước, luật nhà ở, luật đăng ký giao dịch an toàn, luật bảo hiểm dân sự, luật về quyền công dân, luật bình đẳng giới, luật ngăn chặn bạo lực gia đình, luật về quyền trẻ em, kỹ năng tư vấn pháp luật trong quy trình dân sự…[4]

Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh. Ở Trường đại học này, luật nhân quyền quốc tế là một môn học trong chương trình Công pháp quốc tế của Khoa Luật quốc tế (gồm 5 chủ đề: luật tổ chức quốc tế, luật biển, luật hàng không, luật miễn trừ ngoại giao và lãnh sự, luật nhân quyền quốc tế). Khóa học luật nhân quyền quốc tế tại trường là 30 tiết học, gồm 3 chủ đề lớn: (i) Sự phát triển của nhân quyền và dân quyền (lịch sử, bản chất và phạm vi của nhân quyền và dân quyền, hệ thống luật quốc tế về nhân quyền); (ii) Công nhận pháp lý đối với nhân quyền và dân quyền tại Việt Nam (Luật hiến pháp); (iii) Đảm bảo thực thi nhân quyền và dân quyền (đảm bảo chính trị và kinh tế, đảm bảo về xã hội và bảo vệ pháp luật: trách nhiệm của nhà nước, cộng đồng, tổ chức và cá nhân; cơ chế và quy trình bảo vệ; nhận thực xã hội và xây dựng năng lực, bồi thường pháp luật, dịch vụ luật pháp)[5].

Đối với hệ đào tạo sau đại học. Hiện nay, số lượng các trung tâm nghiên cứu/cơ sở đào tạo có mã ngành đào tạo sau đại học độc lập về quyền con người khá hạn chế, chỉ có một số chương trình như: Chương trình thạc sỹ chuyên ngành pháp luật về quyền con người của Đại học quốc gia Hà Nội[6], chương trình thạc sỹ về quyền con người của Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam[7]

Bên cạnh những chính sách và chương trình cấp quốc gia, Việt Nam đã từng bước thiết lập hệ thống các cơ sở nghiên cứu chuyên sâu về quyền con người nhằm cung cấp nền tảng khoa học cho việc hoạch định chính sách, giảng dạy và đào tạo. Nổi bật trong số đó là Viện Quyền con người trực thuộc Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh – cơ quan đầu ngành trong đào tạo cán bộ lý luận chính trị về quyền con người; Trung tâm Nghiên cứu Quyền con người và Quyền công dân thuộc Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội – nơi triển khai các hoạt động đào tạo và nghiên cứu gắn với các chuẩn mực pháp lý quốc tế; cùng với Trung tâm Nghiên cứu Pháp luật về Quyền con người và Quyền công dân thuộc Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh – đơn vị chú trọng lồng ghép nhân quyền vào đào tạo luật chuyên sâu.

Ngoài ra, một số viện nghiên cứu thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam như Viện Gia đình và Giới, Viện Nhà nước và Pháp luật, Viện Nghiên cứu Con người… đã thiết lập các bộ phận hoặc phòng chuyên môn nghiên cứu về quyền con người. Các trung tâm này có định hướng hoạt động đa dạng: từ đào tạo – giảng dạy, đến nghiên cứu lý luận và thực tiễn nhằm đóng góp vào tiến trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách và nâng cao hiểu biết xã hội về nhân quyền. Điểm chung trong chương trình đào tạo tại các cơ sở này là sự kết hợp hài hòa giữa lý luận và thực tiễn, hướng tới xây dựng một nhận thức toàn diện, khoa học và cập nhật về quyền con người cho người học.

Bên cạnh các chương trình đào tạo tập trung và dài hạn, nhiều cơ sở còn triển khai các khóa bồi dưỡng ngắn hạn dành cho cán bộ, công chức, viên chức theo các đề án quốc gia hoặc theo nhu cầu riêng của từng cơ quan, tổ chức. Những chương trình này góp phần quan trọng trong việc phổ biến kiến thức cơ bản, nâng cao nhận thức và kỹ năng thực thi quyền con người trong các lĩnh vực quản lý nhà nước và hoạt động xã hội.

Tuy nhiên, thực tế triển khai cho thấy việc giảng dạy quyền con người trong hệ thống giáo dục đại học tại Việt Nam vẫn chưa đạt được tính thống nhất và đồng bộ. Mặc dù nhiều trường đã lồng ghép nội dung quyền con người vào các học phần như luật quốc tế, công pháp quốc tế, hay lý luận chính trị, song đa số vẫn chỉ coi đây là một chủ đề bổ trợ, chưa phát triển thành học phần độc lập mang tính bắt buộc. Một số trường có xây dựng môn học riêng về quyền con người, nhưng chủ yếu dưới dạng môn tự chọn, dẫn đến tính phổ cập và khả năng lan tỏa của tri thức nhân quyền còn hạn chế. Bên cạnh đó, phương pháp giảng dạy và tài liệu học tập vẫn chưa thực sự thống nhất và thiếu tính cập nhật, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới chương trình đào tạo trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế.

Thứ hai, Tiến hành các hoạt động nghiên cứu khoa học và tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền con người

Hoạt động nghiên cứu khoa học về quyền con người tại các cơ sở đào tạo, học viện ở Việt Nam đã có những bước tiến đáng ghi nhận. Không chỉ dừng lại ở các nỗ lực đơn lẻ mang tính chất nội bộ, quá trình nghiên cứu này ngày càng được mở rộng với sự hợp tác chặt chẽ cùng các tổ chức, quốc gia có truyền thống về bảo vệ quyền con người như Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch, Australia, và các thể chế thuộc Liên minh châu Âu (EU). Đây là minh chứng rõ nét cho xu thế hội nhập quốc tế trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học, đặc biệt là trong những lĩnh vực mang tính toàn cầu và nhân văn sâu sắc như quyền con người. Các hình thức hoạt động nghiên cứu đa dạng, bao gồm tổ chức hội thảo khoa học quốc tế và trong nước, các lớp bồi dưỡng chuyên đề ngắn hạn, chương trình trao đổi học giả, chuyên gia quốc tế, và đặc biệt là thực hiện các dự án, đề tài nghiên cứu liên quan đến việc triển khai các khuyến nghị từ Cơ chế Kiểm điểm định kỳ phổ quát (UPR). Ngoài ra, việc biên soạn các giáo trình, tài liệu tham khảo, hướng dẫn hỏi - đáp chuyên sâu cũng góp phần hệ thống hóa và lan tỏa tri thức khoa học về quyền con người. Về mặt học thuật, các kết quả nghiên cứu không chỉ giúp củng cố hệ thống lý luận hiện có, mà còn mở rộng, làm sâu sắc thêm các khía cạnh thực tiễn, từ đó cung cấp cơ sở khoa học đáng tin cậy cho việc hoàn thiện hệ thống pháp luật và chính sách công tại Việt Nam. Các luận điểm, khuyến nghị rút ra từ các công trình nghiên cứu này là nguồn tham chiếu giá trị cho các cơ quan nhà nước trong quá trình hoạch định và xây dựng chính sách. Đồng thời, các kết quả này còn là kho tàng tri thức hữu ích cho sinh viên, giảng viên, nhà nghiên cứu, và cả những người làm công tác thực tiễn trong lĩnh vực bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.

Song song với hoạt động nghiên cứu, công tác tuyên truyền và phổ biến kiến thức về quyền con người giữ vai trò then chốt trong việc chuyển tải thông tin từ tầm vĩ mô đến từng người dân. Những hoạt động này đã và đang được triển khai thông qua nhiều hình thức phong phú như: hội thảo, tọa đàm, tập huấn, các buổi nói chuyện chuyên đề, sinh hoạt câu lạc bộ, cùng với việc biên soạn và phát hành tài liệu tuyên truyền chuyên biệt. Một điểm đáng chú ý là nội dung tuyên truyền không chỉ giới hạn trong các quy định của pháp luật trong nước mà còn bao gồm các điều ước, công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đặc biệt, các thông tin liên quan đến Cơ chế UPR như quy trình báo cáo, tiếp nhận và thực hiện khuyến nghị, các khó khăn, thuận lợi trong quá trình triển khai... cũng được giới thiệu rộng rãi. Điều này giúp người dân hiểu rõ hơn vai trò của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế cũng như trách nhiệm thực hiện cam kết quốc tế của quốc gia. Công tác truyền thông về quyền con người giúp nâng cao nhận thức của người dân không chỉ về các quyền và lợi ích hợp pháp của bản thân mà còn về nghĩa vụ, trách nhiệm cá nhân trong việc tôn trọng và bảo vệ quyền của người khác. Đây chính là yếu tố then chốt để tạo dựng một xã hội công bằng, dân chủ và nhân văn. Tuyên truyền hiệu quả cũng góp phần thu hẹp khoảng cách giữa quy định pháp luật và thực tiễn áp dụng, từ đó thúc đẩy quá trình nội luật hóa các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người, tạo nền tảng bền vững cho sự phát triển xã hội và nhà nước pháp quyền.

Thứ ba, Sự tham gia của cơ sở nghiên cứu/đào tạo vào quy trình xây dựng và phản biện các báo cáo quốc gia về quyền con người

       Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng tham gia sâu rộng vào các cơ chế nhân quyền quốc tế, việc xây dựng các báo cáo quốc gia về quyền con người – trong đó có báo cáo theo Cơ chế Rà soát Định kỳ Phổ quát (UPR) – là một nhiệm vụ quan trọng thể hiện trách nhiệm và cam kết của Nhà nước đối với cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, trên thực tế, sự tham gia của các cơ sở nghiên cứu và đào tạo vào quá trình này vẫn còn khá hạn chế.

Dù vậy, nếu được huy động đúng mức, các cơ sở này – với thế mạnh về nghiên cứu học thuật, năng lực phân tích chính sách và kinh nghiệm thực tiễn trong đào tạo, giáo dục – hoàn toàn có thể đóng vai trò tích cực trong việc đóng góp thông tin, phản biện chính sách và đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện nội dung các báo cáo quốc gia. Những đóng góp này sẽ góp phần gia tăng tính khách quan, toàn diện và chiều sâu khoa học của báo cáo, đồng thời phản ánh rõ hơn thực tiễn thực thi quyền con người ở cấp cộng đồng và cơ sở.

Bên cạnh đó, cần nhấn mạnh rằng Cơ chế UPR – được thiết lập bởi Hội đồng Nhân quyền Liên Hợp Quốc – không chỉ là một quy trình đánh giá định kỳ tình hình nhân quyền ở các quốc gia thành viên, mà còn là một cơ chế thúc đẩy đối thoại cởi mở, hợp tác toàn diện và cam kết cải thiện thực chất tình hình nhân quyền trên phạm vi toàn cầu. UPR hoạt động trên nguyên tắc bình đẳng, minh bạch, khách quan và bao trùm, và do đó, không chỉ dựa vào báo cáo chính thức của chính phủ, mà còn tiếp nhận và xem xét các nguồn thông tin từ nhiều chủ thể khác nhau, bao gồm: Các tổ chức phi chính phủ (NGOs), Các cơ quan nhân quyền quốc gia (NHRIs), Các tổ chức nghiên cứu và đào tạo, Các cá nhân, học giả hoạt động trong lĩnh vực quyền con người.

Chính vì vậy, các báo cáo nghiên cứu độc lập từ các viện, trung tâm chuyên môn hoàn toàn có thể trở thành nguồn tư liệu tham chiếu quan trọng, góp phần định hình các nội dung đánh giá, khuyến nghị và thảo luận tại Hội đồng Nhân quyền trong khuôn khổ UPR.

Đây không chỉ là cơ hội để các cơ sở học thuật thể hiện vai trò xã hội, mà còn là dịp để nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu, gắn kết tri thức hàn lâm với thực tiễn chính sách, góp phần vào tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền và bảo đảm quyền con người tại Việt Nam một cách thực chất, phù hợp với chuẩn mực quốc tế.

3. Định hướng đối với hoạt động nghiên cứu, giáo dục, đào tạo quyền con người ở Việt Nam trong thời gian tới

Trong bối cảnh đất nước tiếp tục đổi mới toàn diện, hội nhập quốc tế sâu rộng và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, việc nghiên cứu, giáo dục và đào tạo quyền con người không chỉ là một yêu cầu học thuật mà còn mang tính chiến lược lâu dài, góp phần xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh và nhân văn. Để thực hiện hiệu quả nhiệm vụ này, cần bám sát và triển khai theo các định hướng cụ thể sau:

Một là, Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc nhận thức và thực hiện quyền con người trở thành một trong những yêu cầu cấp thiết nhằm bảo đảm sự phát triển bền vững, công bằng và dân chủ của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, quyền con người không phải là khái niệm du nhập một cách máy móc từ bên ngoài, mà đã được nhận thức, kế thừa và phát triển trên nền tảng tư tưởng, đường lối chính trị của Đảng Cộng sản Việt Nam và truyền thống lịch sử, văn hóa của dân tộc. Vì vậy, việc tiếp tục quán triệt và bám sát các quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trong nghiên cứu và giáo dục quyền con người là yêu cầu mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa định hướng và chỉ đạo toàn diện cho toàn bộ hoạt động lý luận cũng như thực tiễn trong lĩnh vực này. Trước hết, nghiên cứu và giáo dục quyền con người cần được đặt trong khuôn khổ tổng thể của hệ tư tưởng chính trị - pháp lý Việt Nam, được định hình bởi các văn kiện cốt lõi như Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp năm 2013, cùng với các nghị quyết của Trung ương Đảng liên quan đến công tác cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền, nâng cao hiệu quả quản trị và phòng, chống tiêu cực. Điều này không chỉ đảm bảo sự thống nhất về nhận thức, tư tưởng và hành động trong toàn hệ thống chính trị, mà còn tạo nền tảng pháp lý và học thuật vững chắc để phát triển các mô hình giáo dục quyền con người phù hợp với điều kiện cụ thể về chính trị, văn hóa và pháp lý của Việt Nam. Một trong những đặc điểm nổi bật trong tư duy về quyền con người của Đảng ta là sự kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ, giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, giữa tự do và kỷ cương, trách nhiệm. Khác với cách tiếp cận thuần túy mang tính cá nhân chủ nghĩa như ở một số quốc gia phương Tây, quyền con người trong hệ tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn gắn liền với trách nhiệm của mỗi công dân đối với cộng đồng, quốc gia và dân tộc. Đây là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các giá trị phổ quát của quyền con người với những giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống đặc sắc của dân tộc Việt Nam, đồng thời phản ánh rõ đặc điểm của một quốc gia đang xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, cần tiếp tục khẳng định và quán triệt sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền con người, coi đó là kim chỉ nam cho các hoạt động nghiên cứu và đào tạo trong lĩnh vực này. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm thể hiện tầm nhìn chiến lược, nhạy bén và toàn diện về quyền con người, khi khẳng định trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 rằng: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được: quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc." Tư tưởng đó không chỉ dừng lại ở lời nói, mà còn được hiện thực hóa xuyên suốt trong quá trình cách mạng, đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước. Với tinh thần đó, các hoạt động nghiên cứu và đào tạo về quyền con người trong thời gian tới cần hướng đến việc: (1) Tăng cường phát triển hệ thống lý luận phù hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam. Gắn kết chặt chẽ với yêu cầu thực tiễn trong xây dựng chính sách, pháp luật về quyền con người. (2) Bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, am hiểu pháp luật quốc tế nhưng đồng thời trung thành với đường lối, tư tưởng của Đảng. (3) Xây dựng giáo trình, tài liệu giảng dạy phù hợp, vừa bảo đảm tính khoa học, khách quan, vừa bảo lưu được bản sắc chính trị, pháp lý và văn hóa Việt Nam.

Hai là, Đẩy mạnh thực hiện Đề án 1309 hướng tới xây dựng văn hóa quyền con người tại Việt Nam. Đề án 1309 không chỉ là một sáng kiến chính sách mang tính tích hợp nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục quốc dân, mà còn đóng vai trò như một nền tảng chiến lược nhằm hình thành và lan tỏa văn hóa quyền con người trong đời sống xã hội hiện đại của Việt Nam. Việc thực hiện đề án này cần được tiếp tục thúc đẩy mạnh mẽ và toàn diện, cả về phạm vi triển khai lẫn chiều sâu nội dung. Ở phương diện chiều rộng, cần mở rộng phạm vi thực hiện đến các cơ sở giáo dục nghề nghiệp, trung tâm bồi dưỡng cán bộ, các thiết chế chính trị – xã hội, nhằm bảo đảm sự phổ cập và tiếp cận đa dạng đối tượng người học. Ở phương diện chiều sâu, cần tập trung vào việc xây dựng hệ thống học liệu – giáo trình mang tính chuẩn hóa và cập nhật; nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên thông qua các chương trình đào tạo chuyên sâu; đồng thời đẩy mạnh tổ chức các hội thảo, tọa đàm khoa học về quyền con người nhằm tạo diễn đàn học thuật để chia sẻ, đối thoại và cập nhật tri thức mới. Xây dựng một nền văn hóa quyền con người không chỉ là việc phổ biến các khái niệm lý luận, mà đòi hỏi sự thẩm thấu các giá trị nhân văn cốt lõi vào nhận thức và hành vi của từng cá nhân trong đời sống thường nhật. Điều này chỉ có thể đạt được thông qua một nền giáo dục có tính hệ thống, liên tục và bền vững – nơi mà quyền con người được nhìn nhận không chỉ như một học thuyết pháp lý, mà còn là nguyên tắc tổ chức xã hội, chuẩn mực đạo đức và động lực phát triển quốc gia.

Ba là, Gắn hoạt động giáo dục, đào tạo quyền con người với nhiệm vụ bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Trong bối cảnh thế giới đang chuyển biến phức tạp với nhiều thách thức an ninh phi truyền thống, đặc biệt là trên không gian mạng và mặt trận tư tưởng, vấn đề quyền con người ngày càng trở thành một chủ đề nhạy cảm, dễ bị lợi dụng vào mục đích chính trị. Các thế lực thù địch, phản động thường xuyên sử dụng chiêu bài “quyền con người” như một công cụ để xuyên tạc tình hình trong nước, công kích vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận thành quả của công cuộc đổi mới và phát triển, cũng như kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ giáo dục và đào tạo về quyền con người không thể được thực hiện một cách biệt lập, phi chính trị, mà cần được đặt trong mối liên hệ hữu cơ, mật thiết với công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng – nền tảng tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm, chủ trương của Đảng trong tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việc lồng ghép giáo dục quyền con người với nhiệm vụ bảo vệ tư tưởng chính trị không đồng nghĩa với việc làm mất đi tính khách quan, khoa học của hoạt động giảng dạy. Trái lại, chính sự gắn kết này giúp người học nhận thức rõ ràng rằng: quyền con người ở Việt Nam không tách rời thực tiễn chính trị - xã hội cụ thể, mà là thành quả của một quá trình cách mạng lâu dài, được vun đắp bởi lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và phát triển vì con người. Do đó, nội dung đào tạo quyền con người cần được thiết kế một cách hài hòa giữa ba yếu tố: tính khoa học, tính khách quan, và tính định hướng chính trị. Các chương trình giảng dạy không chỉ cần cập nhật những nguyên tắc, chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam là thành viên, mà còn phải làm rõ quan điểm của Đảng và Nhà nước trong việc tiếp cận, vận dụng các giá trị quyền con người một cách có chọn lọc, phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa và thể chế chính trị đặc thù của đất nước. Đặc biệt, trong các cơ sở giáo dục thuộc lực lượng vũ trang nhân dân như quân đội và công an – những lực lượng nòng cốt trong việc bảo vệ an ninh quốc gia và trật tự xã hội – việc giáo dục quyền con người cần được lồng ghép chặt chẽ với giáo dục chính trị, tư tưởng, nhằm nâng cao nhận thức lý luận, bản lĩnh chính trị, khả năng nhận diện và đấu tranh với các quan điểm sai trái, phản động trên mặt trận tư tưởng – lý luận. Qua đó, không chỉ giúp cán bộ, chiến sĩ hiểu rõ giá trị thực chất của quyền con người trong bối cảnh Việt Nam, mà còn trang bị cho họ công cụ lý luận sắc bén để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và giữ vững trận địa tư tưởng trong tình hình mới..

Bốn là, Khuyến khích, thúc đẩy hoạt động nghiên cứu quyền con người trong các cơ sở giáo dục và đào tạo. Nghiên cứu khoa học về quyền con người cần được xác định là một hướng đi chiến lược trong tổng thể phát triển khoa học xã hội và nhân văn ở Việt Nam, với vai trò là nền tảng lý luận phục vụ hoạch định chính sách và là động lực nâng cao chất lượng đào tạo, giáo dục thực tiễn. Các cơ sở giáo dục và đào tạo, đặc biệt là các trường đại học và viện nghiên cứu, cần được khuyến khích đóng vai trò trung tâm trong việc phát triển tri thức học thuật về quyền con người, đồng thời gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận với yêu cầu thực tiễn quản trị quốc gia và hội nhập quốc tế. Để đạt được điều đó, Nhà nước và các bộ, ngành liên quan cần sớm ban hành và vận hành hiệu quả các cơ chế hỗ trợ nghiên cứu: bao gồm tài trợ đề tài trọng điểm, tạo điều kiện cho công bố quốc tế, thúc đẩy hợp tác liên ngành, liên trường và xây dựng mạng lưới nghiên cứu liên kết trong nước và toàn cầu về quyền con người. Việc khuyến khích các sáng kiến học thuật độc lập, sáng tạo từ các cơ sở đào tạo không chỉ là giải pháp thiết thực nhằm làm giàu hệ sinh thái nghiên cứu, mà còn là động lực đổi mới tư duy tiếp cận, phản biện chính sách và nâng cao năng lực tham gia vào các diễn đàn khoa học quốc tế. Sự phát triển của nghiên cứu quyền con người trong môi trường đại học không chỉ dừng lại ở khía cạnh học thuật, mà còn góp phần hình thành đội ngũ chuyên gia có khả năng giải quyết các vấn đề xã hội hiện hữu, thúc đẩy tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền, bảo đảm công bằng, dân chủ và nhân văn – những giá trị cốt lõi mà xã hội Việt Nam đang hướng tới.

Năm là, Mở rộng hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, giáo dục và đào tạo quyền con người. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hợp tác quốc tế không chỉ là phương thức tiếp cận các tri thức tiên tiến về quyền con người trên thế giới, mà còn là một cơ chế thiết yếu để Việt Nam khẳng định vị thế, thể hiện trách nhiệm quốc tế và tăng cường năng lực nội sinh trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo. Việc chủ động hội nhập thông qua hợp tác học thuật và thể chế là điều kiện tiên quyết để nâng cao chất lượng nghiên cứu và giảng dạy quyền con người, đồng thời bảo đảm sự hài hòa giữa chuẩn mực quốc tế và đặc điểm chính trị – pháp lý trong nước. Trong thời gian tới, cần tiếp tục thúc đẩy các hướng hợp tác cụ thể và thiết thực, bao gồm: (1) Tăng cường liên kết với các tổ chức quốc tế như UNDP, UNESCO, OHCHR, cùng các tổ chức phi chính phủ hoạt động trong lĩnh vực nhân quyền, nhằm tranh thủ nguồn lực, chuyên gia và kinh nghiệm toàn cầu; (2) Đẩy mạnh các chương trình trao đổi học giả, học bổng và đào tạo liên kết với các trường đại học, viện nghiên cứu có uy tín, qua đó cập nhật kiến thức, phương pháp giảng dạy và công cụ đánh giá hiện đại; (3) Tham gia tích cực vào các diễn đàn, hội nghị quốc tế chuyên ngành để lan tỏa kinh nghiệm Việt Nam, học hỏi mô hình phù hợp và đóng góp tiếng nói có trách nhiệm trong các thảo luận toàn cầu về quyền con người. Hợp tác quốc tế không chỉ giúp làm phong phú nội dung giảng dạy và nghiên cứu, mà còn thúc đẩy sự chuyển giao tri thức, nâng cao năng lực cho đội ngũ chuyên gia, giảng viên trong nước, đồng thời mở rộng cơ hội xây dựng mạng lưới học thuật toàn cầu. Qua đó, Việt Nam có thể vừa học hỏi, vừa định hình được cách tiếp cận riêng về quyền con người, gắn với bản sắc văn hóa và định hướng phát triển bền vững của quốc gia..


KẾT THÚC VẤN ĐỀ

Giáo dục, đào tạo và nghiên cứu về quyền con người tại Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển có tính chiến lược, đặt trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi số toàn diện và yêu cầu bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Những thành tựu bước đầu, cùng với sự tham gia ngày càng tích cực của các cơ sở đào tạo, nghiên cứu, đã tạo nền tảng quan trọng để hình thành văn hóa quyền con người trong xã hội. Tuy nhiên, để quá trình này thực sự đi vào chiều sâu và có sức lan tỏa rộng rãi, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, đa dạng hóa phương pháp tiếp cận, tăng cường hợp tác quốc tế và nội lực hóa tri thức nhân quyền theo hướng phù hợp với điều kiện chính trị, văn hóa, pháp lý của Việt Nam. Đặc biệt, cần bảo đảm sự hài hòa giữa tính khoa học – khách quan và tính định hướng chính trị – tư tưởng trong thiết kế và triển khai các chương trình giáo dục quyền con người. Với sự quyết tâm chính trị từ Trung ương, cùng sự vào cuộc đồng bộ của các bộ, ngành, địa phương và hệ thống cơ sở giáo dục, có thể kỳ vọng rằng giáo dục quyền con người sẽ trở thành một trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển con người toàn diện, góp phần thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế và xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh tại Việt Nam.


 

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.     Báo cáo cuối cùng (12/2013), Đánh giá việc giảng dạy nhân quyền tại Học viện Ngoại giao và các trường đại học ở Việt Nam, Nhóm tư vấn quốc gia.

2.     Đại học Quốc gia Hà Nội (2020), Chương trình đào tạo Thạc sĩ chuyên ngành Pháp luật về quyền con người, truy cập tại: https://www.vnu.edu.vn/...

3.     Đảng Cộng sản Việt Nam (2018), Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 20/10/2018 của Bộ Chính trị về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Hà Nội.

4.     Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Quyền con người (2022), Tài liệu đào tạo và bồi dưỡng về quyền con người, Hà Nội.

5.     Hội thảo quốc tế (2020), Nghiên cứu và giáo dục quyền con người ở Việt Nam: Những cơ hội và thách thức, truy cập tại: http://gass.edu.vn/...

6.     Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Nxb. Chính trị Quốc gia Sự thật.

7.     Thủ tướng Chính phủ (2017), Quyết định số 1309/QĐ-TTg ngày 05/9/2017 phê duyệt Đề án đưa nội dung quyền con người vào chương trình giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân.

8.     UNDP Vietnam (2020), Human Rights Education in Vietnam: Achievements and Challenges, United Nations Development Programme.

9.     Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (2021), Thông tin nghiên cứu khoa học về quyền con người tại Việt Nam, Viện Nhà nước và Pháp luật.



[1] Giảng viên, Học viện Toà án

[2] Giảng viên, Học viện Toà án

[3] Xem Báo cáo cuối cùng đánh giá việc giảng dạy nhân quyền tại Học viện Ngoại giao và các trường Đại học tại Việt Nam của nhóm tư vấn quốc gia vào tháng 12/2013

[4] Xem Báo cáo cuối cùng đánh giá việc giảng dạy nhân quyền tại Học viện ngoại giao và các trường Đại học tại Việt Nam của nhóm tư vấn quốc gia vào tháng 12/2013

[5] Xem: Báo cáo cuối cùng đánh giá việc giảng dạy nhân quyền tại Học viện ngoại giao và các trường Đại học tại Việt Nam của nhóm tư vấn quốc gia vào tháng 12/2013

[6] Chương trình này gồm 12 môn học với 50 tín chỉ trong đó có 9 môn kiến thức cơ sở và chuyên ngành. Chương trình đào tạo những chuyên gia có kiến thức cơ bản, toàn diện, chuyên sâu về các vấn đề lý luận, pháp luật quốc tế và quốc gia về quyền con người, có khả năng phân tích, đánh giá và giải quyết các công việc có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến vấn đề quyền con người ở các cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, chính trị - xã hội cũng như thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, nghiên cứu về lĩnh vực này tại các cơ sở đào tạo Nguồn: https://www.vnu.edu.vn/ttsk/?C2092/N8361/Lan-dau-tien-dao-tao-thac-si-chuyen-nganh-Phap-luat -ve-quyen-con-nguoi-tai-Viet-Nam.htm

[7] Nguồn http://gass.edu.vn/Detail.aspx?ArticleID=2731&CatdID=225&CatdIDParent=211&Title=Hoi-thao-quoc-te--%E2%80%9CNghien-cuu-va-giao-duc-quyen-con-nguoi-o-Viet-Nam:-nhung-co-hoi-va-thach-thuc%E2%80%9D


In Trang | Đóng cửa sổ