Chuyên đề 1: Khái niệm, đặc điểm và mục đích của áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng
TS
TS. Hoàng Văn Toàn
Tóm
tắt:
Trong
phạm vi bài viết chúng tôi tập trung làm rõ những vấn đề lý luận cốt lõi về áp
dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng trong pháp luật xử lý
vi phạm hành chính Việt Nam. Bằng việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên
ngành luật học, tác giả phân tích sâu sắc khái niệm, chỉ ra các đặc điểm đặc thù
thể hiện tính cưỡng chế nhà nước kết hợp sâu sắc với tính giáo dục, phòng ngừa
đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Đồng thời, chuyên đề làm rõ mục
đích tối thượng của biện pháp này là giáo dục, tái hòa nhập cộng đồng, hỗ trợ
người chưa thành niên phát triển toàn diện thay vì thuần túy trừng phạt. Kết quả
nghiên cứu đóng góp nguồn tài liệu tham khảo khoa học có giá trị, phục vụ công
tác giảng dạy, nghiên cứu lý luận pháp luật và cung cấp cơ sở thực tiễn cho việc
hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả xét xử, áp dụng biện pháp này tại Tòa án
nhân dân trong giai đoạn hiện nay.
Từ
khoá:
Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng tại Toà án nhân
dân; khái niệm, đặc điểm, mục đích
1.
Đặt vấn đề
Trong
hệ thống pháp luật xử lý vi phạm hành chính của Việt Nam, người chưa thành niên
luôn là đối tượng đặc thù, nhận được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước và xã
hội. Việc xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật đòi hỏi sự cân bằng tinh
tế giữa yêu cầu bảo đảm trật tự, an toàn xã hội với nguyên tắc bảo đảm quyền,
lợi ích hợp pháp tốt nhất cho người chưa thành niên. Trong số các biện pháp xử
lý hành chính được quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính, đưa vào trường
giáo dưỡng là biện pháp xử lý hành chính khác mang tính cưỡng chế cao nhất, áp
dụng riêng cho đối tượng người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp luật
nghiêm trọng nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự.
Biện
pháp đưa vào trường giáo dưỡng mang bản chất pháp lý phức tạp: vừa thể hiện
quyền lực cưỡng chế của Nhà nước nhằm răn đe, phòng ngừa vi phạm, vừa mang đậm
tính nhân văn, giáo dục và hỗ trợ đối tượng vi phạm nhận thức lại sai lầm, rèn
luyện kỹ năng sống, học văn hóa, học nghề để tái hòa nhập cộng đồng. Việc nhận
thức đầy đủ, toàn diện và sâu sắc các khía cạnh lý luận về khái niệm, đặc điểm
và mục đích của biện pháp này đóng vai trò là "kim chỉ nam" cho toàn bộ quá
trình áp dụng pháp luật trên thực tế.
Tuy
nhiên, trước sự phát triển nhanh chóng của kinh tế - xã hội, tình hình vi phạm
pháp luật và tội phạm trong lứa tuổi thanh thiếu niên đang có những diễn biến
phức tạp với nhiều phương thức, thủ đoạn mới. Bên cạnh đó, tiến trình hội nhập
quốc tế và yêu cầu nội hóa các chuẩn mực quốc tế về tư pháp người chưa thành
niên (như Công ước của Liên Hợp Quốc về Quyền trẻ em) đòi hỏi pháp luật Việt Nam
phải liên tục hoàn thiện. Thực tiễn áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
tại Tòa án nhân dân thời gian qua cũng cho thấy còn không ít vướng mắc, bất cập
trong việc nhận thức các tiêu chí áp dụng, xác định mục đích giáo dục chuyên
biệt và bảo đảm quyền con người, quyền trẻ em.
Từ
những lý do trên, việc nghiên cứu một cách hệ thống, sâu sắc và toàn diện về
"Khái niệm, đặc điểm và mục đích của áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa
vào trường giáo dưỡng" không chỉ dừng lại ở yêu cầu làm phong phú thêm
lý luận về pháp luật xử lý vi phạm hành chính và tư pháp người chưa thành niên,
mà còn mang giá trị thực tiễn cấp thiết. Kết quả nghiên cứu của chuyên đề sẽ góp
phần cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện thể chế pháp lý, nâng cao
chất lượng công tác xét xử, quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại
Tòa án nhân dân, đồng thời phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu, giảng dạy
luật học chuyên sâu.
2. Khái niệm áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng
Trong
khoa học pháp lý, “áp dụng pháp luật” được xem là một hình thức đặc biệt của
việc thực hiện pháp luật. Khác với các hình thức tuân thủ, chấp hành hoặc sử
dụng pháp luật, áp dụng pháp luật gắn liền với hoạt động quyền lực của Nhà nước
nhằm đưa các quy định pháp luật vào thực tiễn đời sống xã hội.
Theo
quan điểm phổ biến trong lý luận pháp luật, áp dụng pháp luật là hoạt động mang
tính quyền lực nhà nước do cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền tiến hành
nhằm cá thể hóa các quy phạm pháp luật đối với các trường hợp cụ thể. Quan điểm
này được thể hiện trong nhiều tài liệu nghiên cứu và giáo trình lý luận nhà nước
và pháp luật.
Theo
giáo trình lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội
thì “Áp dụng pháp luật là hình thức thực
hiện pháp luật của các cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền hoặc tổng
chức xã hội được trao quyền”.
Theo
quan điểm của Phan Thị Luyện cho rằng“Áp
dụng pháp luật là hình thức thực hiện pháp luật, nhà nước thông qua các cơ quan
nhà nước, hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức cho các chủ thể thực hiện
các quy định của pháp luật hoặc tự mình căn cứ vào quy định của pháp luật để tạo
ra các quyết định làm phát sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt những quan hệ
pháp luật cụ thể”
Theo
quan điểm của Đặng Bá Vinh đưa ra quan điểm “Áp dụng pháp luật là hoạt động mang
tính quyền lực nhà nước, được thực hiện bởi cơ quan, người có thẩm quyền theo
trình tự, thủ tục luật định nhằm cá biệt hóa các quy phạm pháp luật vào những
trường hợp cụ thể đối với tổ chức, cá nhân cụ thể thông qua việc ban hành quyết
định áp dụng pháp luật làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ
pháp lý của chủ thể trong quan hệ pháp luật.”
Như
vậy, các quan điểm trên đều nhấn mạnh rằng thông qua hoạt động áp dụng pháp
luật, các quy định pháp luật mang tính trừu tượng được chuyển hóa thành các
quyết định cá biệt có giá trị bắt buộc đối với cá nhân hoặc tổ chức cụ thể. Hoạt
động này thường làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật
trong những tình huống pháp lý cụ thể.
Trong
khoa học pháp lý, hoạt động áp dụng pháp luật thường được xác định có một số đặc
điểm cơ bản:
Thứ
nhất,
áp dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước. Điều này thể hiện ở
chỗ hoạt động áp dụng pháp luật chỉ được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước, tổ
chức hoặc cá nhân được Nhà nước trao thẩm quyền theo quy định của pháp luật.
Thông qua hoạt động này, Nhà nước trực tiếp thể hiện ý chí của mình trong việc
giải quyết những vụ việc pháp lý cụ thể, bảo đảm cho các quy định của pháp luật
được thực thi trên thực tế. Quyền lực nhà nước trong áp dụng pháp luật còn thể
hiện ở việc các quyết định áp dụng pháp luật mang tính bắt buộc đối với các chủ
thể có liên quan và được bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp cưỡng chế của Nhà
nước khi cần thiết. Chính vì vậy, không phải mọi chủ thể trong xã hội đều có thể
thực hiện hoạt động áp dụng pháp luật, mà chỉ những cơ quan, tổ chức hoặc cá
nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật mới được ban hành các quyết định
áp dụng pháp luật. Điều này nhằm bảo đảm tính hợp pháp, tính thống nhất và tính
nghiêm minh của pháp luật trong quá trình điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đồng
thời, việc giới hạn chủ thể có thẩm quyền áp dụng pháp luật cũng góp phần kiểm
soát quyền lực nhà nước, ngăn ngừa sự tùy tiện trong việc áp dụng pháp luật, qua
đó bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trong xã hội.
Thứ
hai,
áp dụng pháp luật là quá trình cá biệt hóa các quy phạm pháp luật. Quy phạm pháp
luật được ban hành dưới dạng những quy tắc xử sự chung, có tính khái quát và
được áp dụng cho nhiều chủ thể trong nhiều tình huống khác nhau của đời sống xã
hội. Tuy nhiên, để các quy định này có thể phát huy hiệu lực trong thực tiễn,
cần phải thông qua hoạt động áp dụng pháp luật của cơ quan, cá nhân có thẩm
quyền nhằm chuyển hóa các quy phạm pháp luật mang tính trừu tượng thành các
quyết định pháp lý cụ thể đối với từng trường hợp nhất định. Quá trình cá biệt
hóa này thể hiện ở việc cơ quan có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp
luật, đối chiếu với các tình tiết thực tế của vụ việc để xác định quyền, nghĩa
vụ hoặc trách nhiệm pháp lý của các chủ thể liên quan. Kết quả của hoạt động áp
dụng pháp luật thường được thể hiện dưới dạng các quyết định pháp lý cá biệt như
bản án, quyết định của Tòa án, quyết định xử phạt vi phạm hành chính hoặc các
quyết định hành chính khác. Thông qua đó, các quy phạm pháp luật từ chỗ mang
tính chung được cụ thể hóa và áp dụng trực tiếp đối với cá nhân hoặc tổ chức cụ
thể trong những hoàn cảnh nhất định. Điều này không chỉ bảo đảm cho pháp luật
được thực thi trong thực tế mà còn góp phần duy trì trật tự pháp lý và bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội.
Thứ
ba,
áp dụng pháp luật được thực hiện theo trình tự, thủ tục pháp lý chặt chẽ. Đây là
đặc điểm quan trọng bảo đảm tính hợp pháp, khách quan và minh bạch của hoạt động
áp dụng pháp luật. Do áp dụng pháp luật gắn liền với việc ban hành các quyết
định pháp lý có thể làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ pháp
lý của cá nhân, tổ chức, thậm chí trong nhiều trường hợp còn hạn chế một số
quyền cơ bản của con người, nên pháp luật luôn quy định chặt chẽ về thẩm quyền,
trình tự, thủ tục cũng như hình thức của các quyết định áp dụng pháp luật. Việc
tuân thủ nghiêm ngặt các trình tự, thủ tục này nhằm bảo đảm rằng quá trình xem
xét và giải quyết vụ việc được tiến hành một cách khách quan, toàn diện, dựa
trên các căn cứ pháp lý và chứng cứ hợp pháp. Đồng thời, trình tự, thủ tục pháp
lý còn là cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước trong hoạt động áp dụng pháp luật,
hạn chế sự tùy tiện hoặc lạm quyền của các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền. Trong
nhiều lĩnh vực, như tố tụng hình sự, tố tụng hành chính hoặc xử lý vi phạm hành
chính, pháp luật còn thiết lập những quy trình cụ thể như tiếp nhận hồ sơ, thu
thập và đánh giá chứng cứ, tổ chức phiên họp hoặc phiên tòa, ban hành quyết định
và bảo đảm quyền khiếu nại, kháng cáo của các chủ thể liên quan. Nhờ đó, hoạt
động áp dụng pháp luật không chỉ bảo đảm tính đúng đắn của quyết định pháp lý mà
còn góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, đồng thời
củng cố tính nghiêm minh và hiệu lực của pháp luật trong quản lý xã hội.
Thứ
tư,
kết quả của áp dụng pháp luật là các quyết định pháp lý làm phát sinh, thay đổi
hoặc chấm dứt quan hệ pháp luật. Đây là biểu hiện trực tiếp và rõ nét nhất của
hoạt động áp dụng pháp luật trong thực tiễn đời sống pháp lý. Nếu như quy phạm
pháp luật chỉ đặt ra những quy tắc xử sự chung mang tính trừu tượng và áp dụng
cho nhiều trường hợp khác nhau, thì thông qua hoạt động áp dụng pháp luật, các
quy tắc đó được chuyển hóa thành những quyết định pháp lý cá biệt đối với các
chủ thể cụ thể trong những hoàn cảnh xác định. Chính các quyết định pháp lý này
như bản án, quyết định của Tòa án, quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết
định hành chính hoặc các văn bản áp dụng pháp luật khác là cơ sở trực tiếp làm
phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể
trong quan hệ pháp luật. Chẳng hạn, một bản án của Tòa án có thể xác lập quyền
sở hữu tài sản cho một cá nhân, một quyết định xử phạt vi phạm hành chính có thể
làm phát sinh nghĩa vụ nộp phạt của người vi phạm, hoặc một quyết định giải
quyết khiếu nại có thể làm chấm dứt một quan hệ pháp lý tranh chấp. Như vậy,
thông qua các quyết định áp dụng pháp luật, ý chí của Nhà nước được thể hiện một
cách cụ thể và trực tiếp trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội. Đồng thời,
những quyết định này cũng là căn cứ pháp lý quan trọng để các chủ thể thực hiện
quyền và nghĩa vụ của mình, góp phần bảo đảm hiệu lực, hiệu quả của pháp luật
trong thực tiễn quản lý xã hội.
Thứ
năm,
áp dụng pháp luật là hoạt động có tính sáng tạo. Mặc dù hoạt động áp dụng pháp
luật phải dựa trên các quy định pháp luật hiện hành và tuân thủ nghiêm ngặt các
nguyên tắc pháp lý, nhưng trong quá trình giải quyết các vụ việc cụ thể, chủ thể
có thẩm quyền không chỉ đơn thuần “sao chép” hoặc máy móc áp dụng quy phạm pháp
luật mà còn phải thực hiện quá trình tư duy pháp lý mang tính sáng tạo. Tính
sáng tạo thể hiện ở việc cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền phải phân tích, đánh
giá toàn diện các tình tiết của vụ việc, lựa chọn và giải thích đúng quy phạm
pháp luật có liên quan, đồng thời vận dụng linh hoạt các quy định pháp luật để
ra quyết định phù hợp với bản chất của quan hệ pháp luật cần giải quyết. Trong
thực tiễn, các quy phạm pháp luật thường được xây dựng dưới dạng khái quát,
trong khi các tình huống phát sinh trong đời sống xã hội lại rất đa dạng và phức
tạp; do đó, quá trình áp dụng pháp luật đòi hỏi người áp dụng phải có khả năng
suy luận pháp lý, nhận diện đúng bản chất của sự việc và đưa ra cách giải quyết
hợp lý trong khuôn khổ pháp luật. Tính sáng tạo trong áp dụng pháp luật không
đồng nghĩa với sự tùy tiện hay vượt ra ngoài quy định của pháp luật, mà là sự
vận dụng linh hoạt, hợp lý các quy định pháp luật trên cơ sở tôn trọng nguyên
tắc pháp chế và bảo đảm công bằng, hợp lý trong từng trường hợp cụ thể. Chính
yếu tố sáng tạo này góp phần làm cho pháp luật có khả năng thích ứng với những
biến động của đời sống xã hội, đồng thời nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp
luật trong thực tiễn.
Trong
khoa học pháp lý, việc áp dụng các biện pháp cưỡng chế pháp lý, như hình phạt
trong luật hình sự hoặc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực quản lý hành
chính nhà nước, thường được xem là biểu hiện điển hình của hoạt động áp dụng
pháp luật. Điều này xuất phát từ bản chất của hoạt động áp dụng pháp luật là sự
vận dụng các quy phạm pháp luật vào việc giải quyết những vụ việc cụ thể phát
sinh trong thực tiễn. Khi có hành vi vi phạm pháp luật xảy ra, cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phải căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành để xác định
tính chất, mức độ vi phạm cũng như trách nhiệm pháp lý tương ứng của chủ thể vi
phạm. Trên cơ sở đó, cơ quan có thẩm quyền ban hành các quyết định áp dụng pháp
luật như bản án, quyết định xử phạt hoặc các quyết định cưỡng chế khác. Những
quyết định này không chỉ thể hiện ý chí quyền lực của Nhà nước mà còn trực tiếp
làm phát sinh những hậu quả pháp lý bất lợi đối với chủ thể vi phạm, như nghĩa
vụ chấp hành hình phạt, nghĩa vụ nộp phạt hoặc thực hiện các biện pháp khắc phục
hậu quả. Chính vì vậy, quá trình áp dụng các biện pháp cưỡng chế pháp lý luôn
đòi hỏi sự tuân thủ chặt chẽ các căn cứ pháp lý, thẩm quyền và trình tự, thủ tục
do pháp luật quy định. Đồng thời, hoạt động này cũng có ý nghĩa quan trọng trong
việc bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, góp phần phòng ngừa và ngăn chặn
các hành vi vi phạm pháp luật trong xã hội.
Từ
các đặc điểm đã phân tích như: (i) áp
dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước;
(ii) là quá trình cá biệt hóa các quy phạm pháp luật; (iii) được thực
hiện theo trình tự, thủ tục pháp lý chặt chẽ;
(iv) kết quả là các quyết định pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt
quan hệ pháp luật; và (v) là hoạt
động có tính sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật, có thể khái quát khái niệm khoa
học về áp dụng pháp luật như sau:
Áp
dụng pháp luật là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do cơ quan, tổ chức
hoặc cá nhân có thẩm quyền thực hiện theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định,
nhằm vận dụng và cá biệt hóa các quy phạm pháp luật để giải quyết những vụ việc
cụ thể trong thực tiễn, qua đó ban hành các quyết định pháp lý làm phát sinh,
thay đổi hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật.
Khái
niệm này phản ánh đầy đủ bản chất của hoạt động áp dụng pháp luật với tư cách là
một hình thức đặc biệt của việc thực hiện pháp luật. Thông qua hoạt động này,
các quy định pháp luật mang tính khái quát được chuyển hóa thành các quyết định
pháp lý cụ thể đối với từng cá nhân, tổ chức trong những hoàn cảnh xác định.
Đồng thời, khái niệm cũng thể hiện rõ vai trò của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
trong việc sử dụng quyền lực công để bảo đảm cho pháp luật được thực thi trong
đời sống xã hội, góp phần duy trì trật tự pháp lý và bảo vệ quyền, lợi ích hợp
pháp của các chủ thể trong xã hội.
Biện
pháp đưa vào trường giáo dưỡng được quy định trong hệ thống pháp luật về xử lý
vi phạm hành chính của Việt Nam, đặc biệt là trong Luật Xử lý vi phạm hành chính
và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Theo
quy định của pháp luật, biện pháp này được áp dụng đối với một số trường hợp
người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu
trách nhiệm hình sự hoặc không cần thiết phải áp dụng hình phạt hình sự. Cụ thể
Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định “Đưa vào trường giáo dưỡng là biện
pháp xử lý hành chính áp dụng đối với người có hành vi vi phạm pháp luật quy
định tại Điều 92 của Luật này nhằm mục đích giúp họ học văn
hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường.”
Thời
hạn áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ 06 tháng đến 24 tháng, tùy
thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm và các tình tiết liên quan đến nhân thân của
người vi phạm.
Mục
đích của việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng nhằm
“giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục
của nhà trường”.
Theo đó, trong thời gian chấp hành biện pháp, người bị áp dụng được học văn hóa,
học nghề, lao động và sinh hoạt dưới sự quản lý và giáo dục của cơ sở giáo dưỡng
nhằm giúp họ sửa chữa sai lầm và tái hòa nhập xã hội.
Ngoài
ra, việc áp dụng biện pháp này phải được thực hiện theo trình tự, thủ tục pháp
lý chặt chẽ, bao gồm việc lập hồ sơ đề nghị, thu thập thông tin về hành vi vi
phạm và xem xét các yếu tố liên quan đến hoàn cảnh của người chưa thành niên vi
phạm pháp luật.
Qua
đó cho thấy áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là biện pháp xử lý hành
chính có tính chất giáo dục nhưng đồng thời mang tính cưỡng chế của Nhà nước,
bởi người bị áp dụng phải sinh hoạt, học tập và lao động trong môi trường quản
lý bắt buộc của nhà trường trong một thời hạn nhất định.
Trong
hệ thống áp dụng các biện pháp cưỡng chế của pháp luật hành chính Việt Nam, áp
dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là một trong các biện pháp xử lý hành
chính đặc thù áp dụng đối với người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp
luật. Luật xử lý vi phạm hành chính quy định về các đối tượng:
“1.
Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội
phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ luật Hình sự.
2.
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội
phạm rất nghiêm trọng hoặc một tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Bộ
luật Hình sự, trừ những tội phạm quy định tại khoản 2 Điều 12 của Bộ luật Hình
sự.
3.
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện một trong các hành vi quy định
tại khoản 2, khoản 3 Điều 90 của Luật này và trước đó đã bị
áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu.
4.
Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện một trong các hành vi quy định
tại khoản 4 Điều 90 của Luật này nhưng không phải là tội
phạm và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, đặc khu.”
Theo
các tài liệu phổ biến pháp luật và nghiên cứu khoa học, áp dụng biện pháp đưa
vào trường giáo dưỡng được hiểu là biện pháp xử lý hành chính áp dụng đối với
người vi phạm pháp luật nhằm giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động và sinh
hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của nhà trường trong một thời gian nhất định.
Các
nghiên cứu về pháp luật xử lý vi phạm hành chính cũng chỉ ra rằng biện pháp này
mang những đặc điểm pháp lý cơ bản sau:
Thứ
nhất,
đây là biện pháp cưỡng chế hành chính đặc thù của Nhà nước.
Biện pháp này được áp dụng đối với cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật nhưng
chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, đồng thời làm hạn chế một số
quyền tự do cá nhân trong thời gian chấp hành biện pháp.
Thứ
hai,
biện pháp này mang tính giáo dục và phòng ngừa vi phạm pháp luật. Theo các
nghiên cứu về tư pháp người chưa thành niên, mục đích chủ yếu của việc đưa người
chưa thành niên vào trường giáo dưỡng không phải là trừng phạt mà là giáo dục,
cải tạo và giúp họ tái hòa nhập xã hội.
Thứ
ba,
biện pháp này áp dụng đối với đối tượng đặc thù là người chưa thành niên vi phạm
pháp luật.
Các
nghiên cứu về hệ thống xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật cho thấy
việc áp dụng biện pháp này phải được cân nhắc thận trọng nhằm bảo đảm lợi ích
tốt nhất cho trẻ em và phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về tư pháp vị thành
niên.
Ngoài
ra, trong hệ thống các biện pháp xử lý vi phạm hành chính, đưa vào trường giáo
dưỡng được xếp vào nhóm biện pháp xử lý hành chính khác, cùng với các biện pháp
như giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc; đưa vào
cơ sở cai nghiện bắt buộc.
Từ cơ
sở lý luận về áp dụng pháp luật, từ bản chất pháp lý của biện pháp xử lý hành
chính đưa vào trường giáo dưỡng tại TAND và từ các quy định của pháp luật hiện
hành, có thể nhận thấy rằng việc áp dụng biện pháp này thực chất là quá trình cơ
quan nhà nước có thẩm quyền căn cứ vào quy định pháp luật để xem xét và ra quyết
định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng tại TAND đối
với từng trường hợp cụ thể.
Trên
cơ sở đó, có thể đưa ra khái niệm như sau:
Áp
dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng tại Tòa án nhân dân là
hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do Tòa án nhân dân có thẩm quyền thực
hiện theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định, nhằm xem xét và ra quyết định
áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng đối với người chưa thành niên có
hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội mà không phải là
tội phạm, trên cơ sở cá biệt hóa các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm
hành chính đối với từng trường hợp cụ thể, nhằm mục đích giáo dục, cải tạo và
phòng ngừa vi phạm pháp luật.
Khái
niệm này phản ánh các yếu tố cơ bản của hoạt động áp dụng biện pháp xử lý hành
chính đưa vào trường giáo dưỡng, bao gồm:
(i)
Chủ thể áp dụng là Tòa án nhân dân có thẩm quyền;
(ii) Căn cứ pháp lý là các quy định
của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính, Pháp lệnh áp dụng các biện pháp xử lý
hành chính tại TAND; (iii) Đối tượng
áp dụng là người chưa thành niên có hành vi vi phạm pháp luật về an ninh, trật
tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm;
(iv) Hình thức thể hiện là quyết định
áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án;
(v) Mục đích của biện pháp là giáo
dục, cải tạo và phòng ngừa vi phạm pháp luật.
Việc
xác định khái niệm này có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu pháp luật về áp
dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng tại TAND, bởi nó góp
phần làm rõ bản chất pháp lý của hoạt động áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào trường giáo dưỡng tại TAND. Đồng thời tạo cơ sở lý luận cho việc nghiên
cứu các vấn đề liên quan đến thẩm quyền, trình tự, thủ tục và bảo đảm quyền con
người trong quá trình áp dụng biện pháp này. Dưới góc độ khoa học pháp lý và
trên cơ sở quy định của pháp luật hiện hành, áp dụng biện pháp xử lý hành chính
đưa vào trường giáo dưỡng là một hoạt động áp dụng pháp luật đặc thù, vừa mang
tính cưỡng chế hành chính của Nhà nước, vừa mang mục đích giáo dục, cải tạo đối
với người chưa thành niên vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội
mà không phải là tội phạm. Từ bản chất đó, hoạt động này có những đặc điểm và
nguyên tắc riêng cần được nhận diện một cách rõ ràng trong nghiên cứu khoa học
pháp lý.
Thứ
nhất, đặc điểm của áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng
Một là,
áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng tại TAND là hoạt động áp dụng pháp
luật mang tính quyền lực nhà nước.
Việc
đưa một cá nhân vào trường giáo dưỡng không phải là hoạt động giáo dục thông
thường mà là quyết định mang tính cưỡng chế của Nhà nước được ban hành trên cơ
sở pháp luật. Chỉ cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật mới
có quyền quyết định áp dụng biện pháp này. Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm
hành chính năm 2012, sửa đổi bổ sung năm 2025 và các văn bản hướng dẫn thi hành,
thẩm quyền quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng thuộc về TAND
sau khi xem xét hồ sơ đề nghị của cơ quan có thẩm quyền.
Đặc
điểm này phản ánh bản chất của hoạt động áp dụng pháp luật: thông qua quyết định
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, ý chí của Nhà nước được thể hiện dưới dạng
quyết định pháp lý cá biệt, làm phát sinh nghĩa vụ pháp lý đối với người bị áp
dụng biện pháp. Khi quyết định được ban hành, người bị áp dụng phải chấp hành
việc học tập, sinh hoạt và lao động trong trường giáo dưỡng trong thời hạn nhất
định theo quy định của pháp luật.
Hai là,
đây là hoạt động áp dụng pháp luật đối với chủ thể đặc thù là người chưa thành
niên vi phạm pháp luật.
Một
trong những đặc điểm quan trọng của biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là đối
tượng áp dụng chủ yếu là người chưa thành niên vi phạm pháp luật về an ninh,
trật tự, an toàn xã hội mà không phải là tội phạm. Pháp luật quy định việc áp
dụng biện pháp này nhằm giáo dục, cải tạo và phòng ngừa tái phạm đối với người
chưa thành niên trong bối cảnh họ vẫn đang trong quá trình phát triển nhân cách.
Do
đó, khác với các biện pháp cưỡng chế hành chính khác, việc áp dụng biện pháp xử
lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng tại TAND phải được xem xét trên cơ sở
đặc điểm tâm sinh lý, hoàn cảnh gia đình và môi trường sống của người chưa thành
niên, nhằm bảo đảm mục tiêu giáo dục và tái hòa nhập xã hội. Điều này thể hiện
cách tiếp cận nhân đạo của pháp luật Việt Nam đối với người chưa thành niên vi
phạm pháp luật, phù hợp với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế về quyền trẻ
em.
Ba là,
áp
dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng tại TAND là hoạt động
được thực hiện theo trình tự, thủ tục pháp lý chặt chẽ.
Do
việc áp dụng biện pháp này có thể hạn chế quyền tự do cá nhân của người bị áp
dụng trong một thời hạn nhất định, pháp luật quy định rất chặt chẽ về trình tự,
thủ tục áp dụng. Quá trình áp dụng biện pháp này thường trải qua các giai đoạn
như:
(i)
lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp; (ii)
xem xét, thẩm tra hồ sơ; (iii) mở
phiên họp tại Tòa án để xem xét việc áp dụng biện pháp;
(iv) ban hành quyết định áp dụng biện
pháp và tổ chức thi hành quyết định.
Việc
tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về thủ tục không chỉ bảo đảm tính hợp pháp của
quyết định áp dụng biện pháp mà còn góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người chưa thành niên, tránh việc áp dụng tùy tiện hoặc lạm dụng biện pháp
cưỡng chế hành chính.
Bốn là,
mục đích của việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng mang tính giáo
dục, cải tạo và phòng ngừa tái phạm.
Khác
với các hình thức xử phạt vi phạm hành chính thông thường, áp dụng biện pháp đưa
vào trường giáo dưỡng tại TAND không nhằm trừng phạt mà chủ yếu hướng đến nhằm
mục đích giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý,
giáo dục của nhà trường.
Thông
qua quá trình giáo dục và quản lý trong trường giáo dưỡng, người chưa thành niên
vi phạm pháp luật có cơ hội sửa chữa sai lầm, hình thành ý thức tôn trọng pháp
luật và chuẩn mực xã hội, từ đó hạn chế nguy cơ tái phạm và tạo điều kiện cho họ
tái hòa nhập cộng đồng.
Thứ
hai, nguyên tắc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng
Một là,
nguyên tắc tuân thủ pháp luật và bảo đảm tính hợp pháp của quyết định áp dụng
biện pháp.
Mọi
quyết định áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng phải được ban hành trên
cơ sở các quy định của pháp luật hiện hành, đúng thẩm quyền, đúng đối tượng và
đúng trình tự, thủ tục. Việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật là
điều kiện bảo đảm cho quyết định áp dụng biện pháp có giá trị pháp lý và được
thi hành trong thực tế.
Nguyên tắc này còn có ý nghĩa quan trọng trong việc kiểm soát quyền lực nhà
nước, ngăn ngừa nguy cơ lạm dụng biện pháp cưỡng chế hành chính đối với người
chưa thành niên.
Hai là,
nguyên tắc bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên.
Người
bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng tuy là người vi phạm pháp luật
nhưng vẫn là chủ thể có quyền và lợi ích hợp pháp cần được tôn trọng và bảo vệ.
Do đó, trong quá trình xem xét và áp dụng biện pháp này cần bảo đảm các quyền cơ
bản của người chưa thành niên, như quyền được trình bày ý kiến, quyền được bảo
vệ về danh dự, nhân phẩm,
quyền được
được giáo dục, học tập và phát triển năng khiếu.
Nguyên tắc này cũng phù hợp với tinh thần của Luật Trẻ em năm 2016 và các điều
ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về
quyền trẻ em.
Ba là,
nguyên tắc bảo đảm mục đích giáo dục, giúp đỡ người chưa thành niên sửa chữa sai
lầm.
Mục
tiêu quan trọng nhất của việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là
nhằm mục đích giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản
lý, giáo dục của nhà trường.
Vì vậy, trong quá trình áp dụng biện pháp, các cơ quan có thẩm quyền cần cân
nhắc toàn diện các yếu tố như mức độ vi phạm, hoàn cảnh gia đình, điều kiện giáo
dục và khả năng cải tạo của người vi phạm.
Chỉ
khi các biện pháp giáo dục khác tại cộng đồng không còn hiệu quả thì mới nên áp
dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, nhằm bảo đảm tính hợp lý và nhân đạo
của chính sách pháp luật đối với người chưa thành niên.
Bốn là,
nguyên tắc bảo đảm tính cá thể hóa trong việc áp dụng biện pháp.
Mỗi
trường hợp người chưa thành niên vi phạm pháp luật đều có những đặc điểm riêng
về hoàn cảnh gia đình, môi trường xã hội và mức độ vi phạm. Do đó, việc áp dụng
biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng cần được xem xét một cách cá thể hóa, không
áp dụng một cách máy móc hoặc đồng loạt.
Nguyên tắc này giúp bảo đảm rằng quyết định áp dụng biện pháp là phù hợp với
tính chất và mức độ vi phạm, đồng thời tạo điều kiện tốt nhất cho việc giáo dục
và phục hồi nhân cách của người chưa thành niên.
Dưới
góc độ khoa học pháp lý, việc
áp dụng biện pháp xử lý
hành chính đưa vào trường giáo dưỡng không nhằm mục đích
trừng phạt như các chế tài hình sự mà chủ yếu hướng đến
giáo dục, cải tạo và
phòng ngừa vi phạm pháp luật ở người chưa thành niên. Mục
đích này được xác định rõ trong các quy định của pháp luật “nhằm mục đích
giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động, sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục của
nhà trường”
cũng như trong các nghiên cứu khoa học về tư pháp người chưa thành niên.
Thứ
nhất,
mục đích cơ bản của việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng là giáo dục
và giúp người chưa thành niên sửa chữa sai lầm, hình thành ý thức tôn trọng pháp
luật và chuẩn mực xã hội. Theo quy định của Luật Xử lý vi phạm hành chính năm
2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020 và 2025), đưa vào trường giáo dưỡng là biện pháp
xử lý hành chính áp dụng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật nhằm
giúp họ học văn hóa, học nghề, lao động và sinh hoạt dưới sự quản lý, giáo dục
của nhà trường. Quy định này cho thấy mục tiêu chính của biện pháp không phải là
trừng phạt mà là tạo điều kiện để người chưa thành niên được giáo dục trong một
môi trường có tổ chức, kỷ luật, qua đó nhận thức được sai lầm và thay đổi hành
vi theo hướng tích cực. Nhiều nghiên cứu pháp lý cũng khẳng định rằng các biện
pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên được xây dựng trên cơ sở
ưu tiên mục tiêu
giáo dục và phục hồi, phù hợp với đặc điểm phát triển tâm sinh
lý của lứa tuổi này.
Thứ
hai,
việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng còn nhằm phòng ngừa tái phạm và
góp phần bảo đảm trật tự, an toàn xã hội. Trong nhiều trường hợp, người chưa
thành niên có hành vi vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm
hình sự. Tuy nhiên, nếu không được quản lý và giáo dục kịp thời thì có thể tiếp
tục thực hiện các hành vi vi phạm nghiêm trọng hơn. Do đó, việc áp dụng biện
pháp đưa vào trường giáo dưỡng cho phép Nhà nước thiết lập một môi trường quản
lý chặt chẽ, kết hợp giữa giáo dục văn hóa, giáo dục pháp luật và rèn luyện kỷ
luật, qua đó giúp người chưa thành niên hình thành lối sống lành mạnh và hạn chế
nguy cơ tái phạm. Theo phân tích của một số nghiên cứu về tư pháp trẻ em, các
biện pháp giáo dục bắt buộc như trường giáo dưỡng có vai trò quan trọng trong
việc can thiệp sớm đối với người chưa thành niên có nguy cơ phạm tội, qua đó góp
phần phòng ngừa tội phạm trong xã hội.
Thứ
ba,
mục đích của việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng còn là tạo điều
kiện cho người chưa thành niên phát triển toàn diện và tái hòa nhập xã hội.
Trong thời gian chấp hành biện pháp, người chưa thành niên được tổ chức học văn
hóa, học nghề và tham gia lao động phù hợp với lứa tuổi, từ đó trang bị cho họ
những kỹ năng cần thiết để có thể tự lập và hòa nhập cộng đồng sau khi chấm dứt
thời hạn chấp hành biện pháp. Điều này thể hiện rõ quan điểm của pháp luật Việt
Nam khi xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật: đặt trọng tâm vào giáo
dục và hỗ trợ phát triển nhân cách, thay vì chỉ tập trung vào việc xử lý vi
phạm. Quan điểm này cũng phù hợp với tinh thần của Công ước của Liên hợp quốc về
quyền trẻ em năm 1989, theo đó việc xử lý trẻ em vi phạm pháp luật phải hướng
tới mục tiêu giáo dục, tái hòa nhập xã hội và phát triển nhân cách của trẻ em.
Thứ
tư,
việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng còn góp phần bảo vệ quyền và
lợi ích của chính người chưa thành niên vi phạm pháp luật. Trong nhiều trường
hợp, hành vi vi phạm của người chưa thành niên xuất phát từ hoàn cảnh gia đình
khó khăn, thiếu sự quản lý hoặc ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường xã hội. Khi
được đưa vào trường giáo dưỡng, họ được sống trong môi trường giáo dục có tổ
chức, có sự quản lý của nhà trường và sự hỗ trợ của đội ngũ cán bộ giáo dục, qua
đó hạn chế các tác động tiêu cực từ môi trường xã hội bên ngoài. Một số nghiên
cứu về chính sách xử lý người chưa thành niên vi phạm pháp luật cũng cho rằng
việc áp dụng các biện pháp giáo dục bắt buộc trong môi trường chuyên biệt có thể
giúp tạo cơ hội phục hồi và phát triển nhân cách cho người chưa thành niên, đặc
biệt trong trường hợp môi trường gia đình và xã hội không bảo đảm điều kiện giáo
dục phù hợp.
Như
vậy, có thể khẳng định rằng mục đích của việc áp dụng biện pháp đưa vào trường
giáo dưỡng không phải là trừng phạt mà chủ yếu nhằm: (i) Giáo dục và giúp
người chưa thành niên sửa chữa sai lầm; (ii) Phòng ngừa tái phạm và góp
phần bảo đảm trật tự xã hội; (iii) Tạo điều kiện cho người chưa thành
niên học tập, rèn luyện và tái hòa nhập cộng đồng; (iv) Bảo vệ quyền và
lợi ích của chính người chưa thành niên trong những trường hợp môi trường xã hội
không bảo đảm điều kiện giáo dục phù hợp. Những mục tiêu này phản ánh quan điểm
nhân đạo và tiến bộ của pháp luật Việt Nam trong việc xử lý người chưa thành
niên vi phạm pháp luật, phù hợp với xu hướng chung của pháp luật quốc tế về tư
pháp người chưa thành niên.
Kết luận:
Trong phạm vi chuyên đề, chung tôi đã tập trung nghiên cứu một cách hệ
thống, toàn diện và sâu sắc những vấn đề lý luận cốt lõi về khái niệm, đặc điểm
và mục đích của việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo
dưỡng. Qua quá trình phân tích, bài viết đã làm rõ áp dụng biện pháp này là một
hoạt động áp dụng pháp luật đặc thù, mang tính quyền lực nhà nước do Tòa án nhân
dân có thẩm quyền thực hiện. Hoạt động này vừa thể hiện quyền lực cưỡng chế công
khai nhằm duy trì trật tự, an toàn xã hội, vừa vận dụng linh hoạt nguyên tắc cá
thể hóa để giải quyết trường hợp cụ thể của từng người chưa thành niên vi phạm
pháp luật. Đặc biệt, chuyên đề đã khẳng định bản chất cốt lõi và mục đích tối
thượng của biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng không phải là sự trừng phạt đơn
thuần, mà là nhằm giáo dục, cải tạo, giúp đỡ người chưa thành niên học văn hóa,
học nghề, phục hồi nhân cách và tái hòa nhập cộng đồng thành công. Việc nhận
thức đúng đắn các đặc điểm và nguyên tắc áp dụng biện pháp này có ý nghĩa lý
luận và thực tiễn sâu sắc, góp phần tạo nền tảng vững chắc cho công tác xem xét,
quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính tại Tòa án nhân dân. Đồng thời,
các kết quả nghiên cứu cũng cung cấp luận cứ khoa học quan trọng cho việc tiếp
tục hoàn thiện thể chế pháp lý, bảo đảm phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về tư
pháp người chưa thành niên và nâng cao hiệu quả công tác giảng dạy, nghiên cứu
khoa học pháp lý trong giai đoạn hiện nay.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo
trình Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, Nxb. Tư pháp, Hà Nội, 2025,
tr.405 – 407
2.
Phan Thị Luyện (2020), “Ảnh hưởng của dư luận xã hội đến hoạt động thự hiện pháp
luật”, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học cấp bộ:
Những vấn đề lý luận hiện đại về Nhà nước và Pháp luật, tr.226, Truy cập
tại:
https://fdvn.vn/wp-content/uploads/2020/12/luu-ban-nhap-tu-dong-1.pdf, ngày
01/3/2026
3.
Đặng Bá Vinh (2025), Tóm tắt Luận án Tiến
sĩ “Áp dụng biện pháp áp dụng pháp luật trong điều tra tội phạm vi phạm quy địn
về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm của cơ quan cảnhh sát điều tra ở Việt
Nam”, tr.9, Truy cập tại:
https://hcma.vn/noidung/Lists/ListTinTuc/Attachments/20436/NCS%20%C4%90%E1%BA%B7ng%20B%C3%A1%20Vinh.T%C3%B3m%20t%E1%BA%AFt%20lu%E1%BA%ADn%20%C3%A1n%20%28ti%E1%BA%BFng%20Vi%E1%BB%87t%29.pdf?,
ngày 01/3/2026
4. Bộ
Tư pháp, Báo cáo nghiên cứu pháp luật về phòng ngừa, xử lý, phục hồi, tái hòa
nhập công đồng đối với người chưa thành niên vi phạm pháp luật và tình hình
người chưa thành niên vi phạm pháp luật tại Việt Nam, Xem tại: