Một số vấn đề chung về xét xử các vụ án hành chính trong lĩnh vực bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
ThS
Tóm tắt:
Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích làm rõ một số vấn đề lý
luận về xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trong lĩnh vực bồi thường khi Nhà nước
thu hồi đất (Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa). Đây là những nội dung quan trọng
trong
quá trình nghiên cứu hoàn thành đề tài “Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trong
lĩnh vực bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất”.
Từ khoá:
Tố tụng hành chính, xét xử sơ thẩm vụ án
hành chính, bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Theo từ điển Wiktionary – Từ điển mở - Từ điển đa ngôn ngữ thì “Hành chính”
là các hoạt
động của cơ
quan công
quyền của nhà
nước trong khuôn
khổ hiến
pháp và pháp
luật.
Theo từ Latinh cổ, thuật ngữ “hành chính” (administration) có hai nghĩa
phân biệt nhau: giúp đỡ, hỗ trợ hay phục vụ – (một người hay một nhóm người dành
cho một người hay một nhóm người khác) và quản lý, hướng dẫn hay cai trị (một
người hay một nhóm người đối với một người hay một nhóm người khác). Kết hợp hai
nghĩa này với nhau ta thấy thuật ngữ “hành chính” vừa có nghĩa là phục
vụ, hỗ trợ lại vừa có nghĩa là quản lý, điều hành.
Theo nghĩa của từ Hán Việt thì “hành” trong hành chính có nghĩa là làm. Còn chữ
“chính” thì trong tiếng Hán có hai chữ không ra đời cùng lúc, chữ trước có nghĩa
là “ngay thẳng, khuôn phép, chính đáng, phải, ở giữa”, từ đó tạo ra chữ chuẩn
thứ hai với các nghĩa: “Làm cho ngay thẳng, việc quan, việc nhà nước, cai trị”.
Theo đó, khi nhắc tới khái niệm “hành chính” dù theo nghĩa của từ Latinh cổ hay
theo nghĩa Hán Việt thì đều gặp nhau ở một ý nghĩa chung là phục vụ, hỗ trợ lại
vừa có nghĩa là quản lý, điều hành và đều hướng về xã hội, quản lý xã hội là
hoạt động của mục đích của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (các cơ quan mang
quyền lực Nhà nước).
Qua đó có thể thấy rõ nội hàm của khái niệm “ Hành chính” được hiểu là hoạt động
của chủ thể có quyền lực Nhà nước, hướng đến việc điều hành, quản lý những mặt,
những lĩnh vực nhất định trong hoạt động quản lý Nhà nước và mục đích là hướng
đến những mục tiêu mà Nhà nước đó mong muốn trong những giai đoạn lịch sử xã hội
cụ thể. Như vậy, khi bàn về khái niệm “hành chính” ta thấy có những nội dung
sau: Một là, hành chính là hoạt động của chủ thể có quyền lực Nhà nước
(có thể là cá nhân, tổ chức); Hai là, hoạt động này nhằm quản lý, điều
hành xã hội hướng đến những mục tiêu cụ thể của Nhà nước, của giai cấp thống trị
trong những giai đoạn lịch sử xã hội cụ thể; Ba là, hoạt động này vừa
mang tính giai cấp và tính xã hội; Bốn là, hoạt động này phải tuân thủ
theo những quy định pháp luật của mỗi quốc gia.
Do đó, khi bàn đến vấn đề hành chính, tranh chấp hành chính là chúng ta đang bàn
đến hoạt động quản lý của nhà nước. Nói cách khác là hoạt động tác động có
mục đích vào các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính Nhà
nước. Trong sự phát triển tự nhiên của đời sống xã hội, bên cạnh những
mối quan hệ cần thiết, có ích cho xã hội thì cũng luôn tồn tại cả những mối quan
hệ không có ích, thậm chí có hại cho trật tự chung. Để duy trì ổn định, trật
tự xã hội đòi hỏi các mối quan hệ trong xã hội phải được điều chỉnh, nhằm
khuyến khích, tạo điều kiện cho những quan hệ xã hội có lợi cho đời sống cộng
đồng được tồn tại và phát triển, ngăn chặn và đi tới loại bỏ những mối quan hệ
mà cộng đồng không mong muốn. Điều chỉnh quan hệ xã hội là việc sử dụng các công
cụ để tác động lên các quan hệ xã hội, làm cho chúng trở nên thay đổi và phát
triển theo những mục đích, định hướng nhất định, nhằm duy trì và bảo vệ trật tự
xã hội.
Để tác động vào các quan hệ xã hội thì mỗi Nhà nước khác nhau đều có các hệ
thống công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội. Điều
chỉnh là
một thuật ngữ Hán
Việt, trong
đó, “điều” chỉ sự cân nhắc,
thêm, bớt làm cho phù hợp; “chỉnh” là sửa đổi, uốn nắn, làm cho ngay ngắn,
Từ điển Tiếng Việt giải thích, điều
chỉnh là “sửa đổi, sắp xếp lại ít nhiều cho đúng hơn, cân đối hơn”.
Các quan hệ xã hội rất phong phú, đa dạng và phức tạp, bởi vậy, để điều
chỉnh chúng
một cách
có hiệu
quả, cần
phải có
nhiều công
cụ khác nhau, bao
gồm pháp
luật (thể chế quan phương),
đạo đức, phong tục tập quán, tín điều tôn giáo, lệ làng, hương ước, luật tục,
qui định của các tổ chức xã hội…(thể chế phi quan phương). Các công cụ này vừa
có sự độc lập, vừa có sự ràng buộc, phụ thuộc lẫn nhau, hợp thành hệ thống công
cụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội.
Để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực quản lý hành chính Nhà nước chủ
yếu Nhà nước sử dụng công cụ pháp luật. “Luật hành chính là ngành luật điều
chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước”
Các chủ thể quản lý hành chính Nhà nước có thể là cá nhân, tổ chức (có quyền lực
Nhà nước) sử dụng quyền lực Nhà nước để tổ chức và tác động lên các đối tượng
quản lý, thể hiện rõ mối quan hệ mệnh lệnh – phục tùng giữa chủ thể quản lý và
đối tượng quản lý. Đây cũng là đặc điểm đặc trưng trong hoạt động quản lý hành
chính Nhà nước.
Các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước được
pháp luật hành chính điều chỉnh có thể chia thành 3 nhóm: (i) các quan hệ
quản lý hành chính phát sinh trong các cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện
hoạt động chấp hành – Điều hành trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội;
(ii) các quan hệ quản lý hành chính phát sinh trong quá trình các cơ quan
nhà nước tổ chức nhằm ổn định về tổ chức để hoàn thành chức năng, nhiệm vụ được
giao; (iii) các quan hệ hành chính giữa các cá nhân và tổ chức cùng được
Nhà nước trao quyền thực hiện quản lý hành chính trên những lĩnh vực nhất định
theo quy định của pháp luật
Như đã đã phân tích ở trên, trong hoạt động quản lý hành chính Nhà nước luôn
phát sinh những tranh chấp nhất định cần phải giải quyết. Thực tiễn cho thấy,
trong đời sống xã hội, có nhiều quan hệ khác nhau và luôn ẩn chứa và phát sinh
nhiều sinh nhiều loại tranh chấp pháp lý khác nhau trên các lĩnh vực cụ thể như:
tranh chấp dân sự, tranh chấp lao động, tranh chấp trong quan hệ hôn nhân, gia
đình, thương mại, kinh tế, tranh chấp hành chính...
1.1. Quản lý hành chính nhà nước về đất đai
Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản
lý. Đất đai là nguồn tài nguyên vô giá và có hạn, là điều kiện cho nguồn sống
của con người, động thực vật trên trái đất.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 54 Hiến pháp năm 2013 quy định: Đất đai được coi
là tài nguyên đặc biệt của quốc gia, nguồn lực quan trọng phát triển đất nước,
được quản lý theo pháp luật.
Như vậy, đất đai là tài nguyên đặc biệt của quốc gia bởi đất đai là một trong
những bộ phận lãnh thổ quốc gia, bị giới hạn bởi ranh giới giữa các quốc gia.
Đất đai có vai trò quan trọng đối với đời sống kinh tế xã hội, vì vậy cần phải
quản lý đất đai, phải có biện pháp để sử dụng đất đai một cách có hiệu quả nhất,
hợp lý nhất tránh tình trạng để lãng phí tài nguyên, tránh sử dụng bừa bãi đất
đai gây nên những hậu quả khó lường: chẳng hạn như cạn kiệt tài nguyên, sử dụng
không có hiệu quả, đất đai bị bỏ hoang, ….
Quản lý đất đai là quá trình sử dụng và phát triển đất trong khu vực nông thôn
hoặc thành thị, quản lý các hoạt động sử dụng tài nguyên đất nhằm phục vụ nhiều
mục đích khác nhau. Việc quản lý đất đai dựa trên các yếu tố: con người, hệ
thống các văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống tổ chức bộ máy. Để quản lý tốt
đất đai cần có những con người có đầy đủ năng lực và phẩm chất ban hành ra văn
bản và tổ chức phân công thực thi nhiệm vụ phù hợp với từng bộ phận của bộ máy.
Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của cơ quan Nhà nước có
thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu nhà nước về đất đai, đó là các
hoạt động trong việc nắm chắc tình hình sử dụng đất đai, trong việc phân phối,
phân phối lại theo quy hoạch, kế hoạch khi kiểm tra, giám sát quá trình sử dụng
đất đai. Đồng thời dựa vào các quy định pháp luật đất đai và các văn bản pháp
luật liên quan, Nhà nước thanh tra, xử lý các vụ tranh chấp, giải quyết khiếu
nại, tố cáo về các vấn đề nảy sinh trong quan hệ đất đai.
Các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai:
Cơ quan quản lý nhà nước về đất đai hiện nay được quy định tại Điều 24 Luật đất
đai năm 2013 như sau: “Điều 24. Cơ quan
quản lý đất đai
1. Hệ thống tổ chức cơ quan quản lý đất đai được tổ chức thống nhất từ trung
ương đến địa phương.
2. Cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ở trung ương là Bộ Tài nguyên và Môi
trường.
Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương được thành lập ở tỉnh, thành phố trực thuộc
trung ương và ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; tổ chức dịch vụ công
về đất đai được thành lập và hoạt động theo quy định của Chính phủ.”
Như vậy, cơ quan quản lý đất đai bao gồm:
+ Hệ thống tổ chức cơ quan quản lý đất đai được tổ chức thống nhất từ trung ương
đến địa phương.
+ Cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ở trung ương là Bộ Tài nguyên và Môi
trường.
+ Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương được thành lập ở tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương và ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; tổ chức dịch vụ
công về đất đai được thành lập và hoạt động theo quy định của Chính phủ.
Bên cạnh đó, tại Điều 4 nghị định 43/0214/NĐ-CP, được sửa đổi bởi Khoản 3 Điều 2
Nghị định 01/2017/NĐ-CP quy định cụ thể:
– Cơ quan quản lý đất đai ở địa phương bao gồm:
+ Cơ quan quản lý đất đai ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là Sở Tài
nguyên và Môi trường;
+ Cơ quan quản lý đất đai ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh là Phòng
Tài nguyên và Môi trường.
– Cơ quan tài nguyên và môi trường ở địa phương bao gồm Sở Tài nguyên và Môi
trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường và Văn phòng đăng ký đất đai được giao
thực hiện một số nhiệm vụ trong quản lý nhà nước về đất đai.
– Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện có trách nhiệm xây dựng tổ
chức bộ máy quản lý đất đai tại địa phương; Ủy ban nhân dân cấp huyện bố trí
công chức địa chính xã, phường, thị trấn bảo đảm thực hiện nhiệm vụ.
– Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ quy định cụ thể về
chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của cơ quan quản lý đất đai ở địa phương
và nhiệm vụ của công chức địa chính xã, phường, thị trấn.
Theo đó, cơ quan quản lý nhà nước về đất đai được phân chia gồm 04 cơ quan
chuyên ngành, được phân bổ từ Trung ương đến địa phương:
Thứ nhất:
Cơ quan quản lý nhà nước về đất đai ở trung ương là Bộ tài nguyên và Môi trường.
Đây là cơ quan của Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tài nguyên
đất, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, môi trường, khí tượng, thủy văn, đo
đạc bản đồ trong phạm vi cả nước và quản lý các dịch vụ công trong quản lý và sử
dụng đất.
Thứ hai:
Sở tài nguyên và Môi trường là cơ quan quản lý đất đai ở tỉnh, thành phố trực
thuộc Trung ương có chức năng quản lý và đo đạc bản đồ, đồng thời chịu sự lãnh
đạo về mặt chuyên môn của Bộ tài nguyên và môi trường.
Thứ ba:
Phòng tài nguyên và Môi trường là cơ quan quản lý đất đai ở huyện, quận, thị xã,
thành phố thuộc tỉnh có chức năng quản lý nhà nước về đất đai và lĩnh vực môi
trường.
Thứ tư:
Cán bộ địa chính cấp xã là người giúp Ủy ban nhân dân cấp xã, phường, thị trấn
trong công tác quản lý đất đai. Cán bộ địa chính cấp xã do Ủy ban nhân dân cấp
huyện bố trí. Hiện nay, nhiều trường hợp cán bộ địa chính ở cấp xã được thuyên
chuyển từ các công tác khác sang làm quản lý đất đai, vì vậy trình độ chuyên môn
chưa đáp ứng được yêu cầu.
Ở cấp Trung ương, Bộ Tài nguyên và Môi trường chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ
quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của cơ quan quản lý đất
đai ở địa phương và nhiệm vụ của công chức địa chính xã, phường, thị trấn. Ở cấp
địa phương bao gồm Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường
và Văn phòng đăng ký đất đai được giao thực hiện một số nhiệm vụ trong quản lý
nhà nước về đất đai.
Nội dung quản lý nhà nước về đất đai
Căn cứ theo quy định tại Điều 22 Luật đất đai năm 2013
quy định nhà nước quản lý đất đai về những nội dung sau:
“Điều 22. Nội dung quản lý nhà nước về đất đai
1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức
thực hiện văn bản đó.
2. Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập
bản đồ hành chính.
3. Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản
đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng
giá đất.
4. Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
5. Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng
đất.
6. Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất.
7. Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
8. Thống kê, kiểm kê đất đai.
9. Xây dựng hệ thống thông tin đất đai.
10. Quản lý tài chính về đất đai và giá đất.
11. Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
12. Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định
của pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
13. Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai.
14. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý
và sử dụng đất đai.
15. Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.”
Như vậy,
nội dung quản lý nhà nước về đất đai,
bao gồm:
+ Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về quản lý, sử dụng đất đai và tổ chức
thực hiện văn bản đó.
+ Xác định địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính, lập
bản đồ hành chính.
+ Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính, bản đồ hiện trạng sử dụng đất và bản
đồ quy hoạch sử dụng đất; điều tra, đánh giá tài nguyên đất; điều tra xây dựng
giá đất.
+ Quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
+ Quản lý việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất.
+ Quản lý việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi thu hồi đất.
+ Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
+ Thống kê, kiểm kê đất đai.
+ Xây dựng hệ thống thông tin đất đai.
+ Quản lý tài chính về đất đai và giá đất.
+ Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
+ Thanh tra, kiểm tra, giám sát, theo dõi, đánh giá việc chấp hành quy định của
pháp luật về đất đai và xử lý vi phạm pháp luật về đất đai.
+ Phổ biến, giáo dục pháp luật về đất đai.
+ Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo trong quản lý
và sử dụng đất đai.
+ Quản lý hoạt động dịch vụ về đất đai.
Nội dung về quản lý đất đai trên đảm bảo cho việc sử dụng, phát triển quỹ đất,
khai thác lợi nhuận thu được từ đất (thông qua thuế, cho thuê, chuyển nhượng, …)
và giải quyết các tranh chấp liên quan đến đất đai.
1.2. Tranh chấp trong lĩnh vực bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
Theo Từ điển Tiếng Việt, “tranh chấp” được hiểu là “đấu tranh giằng co khi có ý
kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi giữa các bên”.
Theo Public International Law in Vietnamese (Công pháp Quốc tế bằng tiếng Việt )
thì
“Một
tranh chấp là một sự bất đồng về một vấn đề pháp lý hay thực tế, một sự xung đột
về quan điểm pháp lý hay lợi ích giữa hai bên.”
Sự xung đột về lợi ích giữa các cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động quản
lí hành chính nhà nước được xác định là tranh chấp hành chính là “tranh
chấp phát sinh trong các lĩnh lực khác nhau của hoạt động hành chính nhà nước”.
Tranh chấp hành chính hiểu theo nghĩa rộng có nhiều loại, bao gồm cả tranh chấp
giữa
các chủ thể thực hiện quyền hành pháp với nhau (có thể là cá nhân, tổ chức).
Các loại tranh chấp có thể xảy ra như tranh chấp về thẩm quyền, về đối tượng và
phạm quản lý, tranh chấp giữa cấp trên và cấp dưới, tranh chấp giữa các cơ quan
cùng cấp…Thông thường việc giải quyết tranh chấp giữa các chủ thể “mang” quyền
lực nhà nước sẽ được giải quyết thông qua cơ chế cấp trên của các cơ quan tranh
chấp sẽ quyết định giải quyết vấn đề tranh chấp này.
Một loại tranh chấp có thể phát sinh nữa là loại tranh chấp giữa một bên là chủ
thể quản lý nhà nước (chủ thể có “mang” quyền lực Nhà nước) với đối tượng chịu
sự quản lý nhà nước. Trong những lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước khác nhau,
các chủ thể quản lý nhà nước có thể ban hành các quyết định hành chính, hành vi
hành chính buộc đối tượng quản lý phải thực hiện. Điều này có thể phát sinh
tranh chấp trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước.
Khái niệm bồi thường: Dưới
góc độ pháp lý, theo Đại từ điển tiếng Việt, bồi thường được hiểu là “đền bù
những tổn thất đã gây ra”.
Về mặt pháp lý, bồi thường là một dạng cụ thể của nghĩa vụ dân sự phát sinh do
hành vi trái pháp luật hoặc trái thỏa thuận gây ra; là cách bù đắp, đền bù tổn
thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại. Vậy bồi thường
có thể hiểu là việc đền bù những tổn thất, mất mát về vật chất và tinh thần nhằm
khắc phục những hậu quả do hành vi gây thiệt hại gây ra.
Trong quá trình phát triển đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế đã kéo theo nhu
cầu sử dụng đất để thực hiện các dự án, khu đô thị ngày một tăng, trong khi đó
quỹ đất trên thực tế không còn đủ để phục vụ cho việc xây dựng các công trình
với mục đích quốc phòng, an ninh hay phát triển kinh tế – xã hội. Chính vì vậy,
Nhà nước phải thực hiện việc thu hồi đất từ những hộ gia đình, cá nhân, tổ chức
đang sử dụng đất; đồng thời phải thực hiện việc bồi thường cho những chủ thể bị
thu hồi đất khi họ bị mất chỗ ở, mất đất canh tác, bị thiệt hại về cây cối hoa
màu... Như vậy, trong lĩnh vực đất đai, trách nhiệm bồi thường được đặt ra khi
Nhà nước tiến hành việc thu hồi đất.
Trong pháp luật đất đai của nước ta, thuật ngữ “bồi thường” khi Nhà nước thu hồi
đất được xây dựng từ rất sớm, cụ thể là sau cuộc cải cách ruộng đất năm 1953.
Chương II, Nghị định số 151/TTg ngày 14/01/1959 của Hội đồng chính phủ quy định
thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất đã lần đầu tiên đề cập đến thuật ngữ bồi
thường, cụ thể là việc “bồi thường cho người có ruộng đất bị trưng dụng”. Tiếp
theo đó, Thông tư số 1792/TTg ngày 11/01/1970 của Thủ tướng chính phủ quy định
một số điểm tạm thời về bồi thường nhà cửa, đất đai, cây cối lâu năm, các hoa
màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế mở rộng thành phố cũng đề cập đến
vấn đề bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất.
Luật Đất đai năm 1987 và Luật Đất đai năm 1993 đều sử dụng thuật ngữ “đền bù
thiệt hại”. Mặc dù không đưa ra định nghĩa cụ thể, tuy nhiên có thể hiểu đền bù
thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại cho người sử dụng
đất tương xứng với giá trị mà họ đã bỏ ra để đầu tư vào đất trong quá trình sử
dụng đất. Tuy nhiên, “đền bù thiệt hại” chỉ đơn giản là Nhà nước đền bù thiệt
hại do việc thu hồi đất gây ra mà không kèm theo việc thực hiện các chính sách
hỗ trợ, tái định cư cho người sử dụng đất. Vì vậy, khi Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật Đất đai năm 2001 được ban hành thì cụm từ “bồi thường” đã thay
thế cho cụm từ “đền bù thiệt hại” .
Luật Đất đai năm 2003 là đạo luật đầu tiên đưa ra giải thích thuật ngữ bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất. Cụ thể, tại Khoản 6 Điều 4 Luật Đất đai năm
2003 quy định như sau: “Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả
lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu
hồi đất”. Giải thích này chưa thật sự chính xác, việc Nhà nước bồi thường khi
thu hồi đất không chỉ riêng giá trị quyền sử dụng đất, mà nó còn bao gồm những
thiệt hại đối với tài sản trên đất, các vấn đề an sinh như: môi trường sống,
sinh hoạt, học tập bị thay đổi,... mà cần phải có cơ chế hỗ trợ thì về cơ bản
Nhà nước mới có thể bù đắp được những thiệt hại mà người sử dụng đất phải gánh
chịu do thu hồi đất gây ra.
Khắc phục những thiếu sót này, tại Khoản 12 Điều 3 Luật Đất đai 2013 đã quy
định: “Bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất
đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất” .
Bồi thường chính là hệ quả pháp lý của việc Nhà nước thu hồi đất, tức là việc
bồi thường chỉ phát sinh sau khi có quyết định thu hồi đất của cơ quan Nhà nước
có thẩm quyền.
Khái niệm hỗ trợ:
Hỗ trợ là một khái niệm quan trọng trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta. “Nó
có thể được hiểu đơn giản là sự giúp đỡ, hỗ trợ hoặc cung cấp các nguồn lực để
giải quyết một vấn đề hoặc khó khăn nào đó. Tuy nhiên, hỗ trợ không chỉ đơn
thuần là việc giúp đỡ mà còn rộng hơn nữa, bao gồm cả việc cung cấp thông tin,
tư vấn, hướng dẫn và định hướng.”
Theo từ điển Tiếng Việt hỗ trợ là “Giúp
đỡ nhau, giúp thêm vào: hỗ trợ bạn bè, hỗ trợ cho đồng đội kịp thời.”
Khoản 14 Điều 3 Luật Đất đai 2013 đã quy định:
“Hỗ
trợ khi Nhà nước thu hồi đất là
việc Nhà nước trợ giúp cho người có đất thu hồi để ổn định đời sống, sản xuất và
phát triển.”
Như vậy,
Căn cứ vào mặt ngữ nghĩa, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất được hiểu là việc Nhà
nước trợ giúp cho người có đất bị thu hồi có đời sống ổn định, giữ vững trạng
thái không bị biến động, xáo trộn đáng kể khi quá trình thu hồi đất diễn ra. Sự
giúp đỡ này làm động lực góp phần ổn định cuộc sống, cũng như thúc đẩy phát
triển kinh tế trong tương lai.
Khái niệm tái định cư:
Chế định Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia,
lợi ích công cộng đã có từ giai đoạn Luật Đất đai năm 1993, nhưng cho đến thời
điểm hiện tại vẫn chưa có văn bản quy phạm pháp luật nào (kể cả Luật Đất đai năm
2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành luật này) định nghĩa thế nào là “tái định
cư” khi Nhà nước thu hồi đất.
Theo Từ điển tiếng Việt: “tái”
là lần
thứ hai, lại một lần nữa, “định cư” là ở
một nơi nhất định để sinh sống, làm ăn
Theo thuật ngữ được đưa ra tại Khung chính sách tái định cư (RPF) thì tái
định cư bao hàm tất cả những thiệt hại trực tiếp về kinh tế và xã hội
gây ra bởi việc thu hồi đất và hạn chế sự tiếp cận, cùng với những biện pháp đền
bù và sửa chữa. Tái định cư không hạn chế sự di dời về mặt vật chất. Tái định cư
có thể tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể, bao gồm: (i) thu hồi đất và các
công trình trên đất, bao gồm cả việc kinh doanh, buôn bán; (ii) Sự di dời về mặt
vật chất; và (iii) Sự khôi phục kinh tế của những người bị ảnh hưởng nhằm cải
thiện hoặc ít nhất là phục hồi thu nhập và mức sống.
Trên cơ sở tổng hợp các quy định nội dung điều chỉnh về vấn đề tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất, có thể hiểu: “Tái
định cư khi Nhà nước thu hồi
đất
được áp dụng khi hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài bị
thu hồi đất
ở hợp pháp mà phải di chuyển chỗ ở và không còn chỗ ở nào khác trên địa bàn cấp
xã nơi có đất ở bị thu hồi thì được bố trí tái định cư bằng việc giao đất ở, nhà
ở hoặc bằng tiền”. Tái định cư được hiểu theo nghĩa hẹp là sự bố trí
lại chỗ ở mới hoặc tại nơi ở cũ trong trường hợp dự án chỉnh trang đô thị, khu
dân cư cho các hộ gia đình, cá nhân bị thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở.
Theo quy định tại Điều 6, Nghị định số
47/2014/NĐ-CP, quy định:
“Điều 6. Bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở
Việc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất ở quy định tại Điều 79 của Luật
Đất đai được thực hiện theo quy định sau đây:
1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ở, người Việt Nam định cư ở nước ngoài
đang sở hữu nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất tại Việt Nam khi Nhà nước thu
hồi đất ở mà có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc đủ điều kiện để được cấp
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền
với đất theo quy định của pháp luật về đất đai thì việc bồi thường về đất được
thực hiện như sau:
a) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi
không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia
đình, cá nhân không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn
nơi có đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng đất ở hoặc nhà ở tái định cư;
b) Trường hợp thu hồi hết đất ở hoặc phần diện tích đất ở còn lại sau thu hồi
không đủ điều kiện để ở theo quy định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh mà hộ gia
đình, cá nhân còn đất ở, nhà ở khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có
đất ở thu hồi thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về
quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở.
2. Trường hợp trong hộ gia đình quy định tại Khoản 1 Điều này mà trong hộ có
nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống trên một thửa đất ở thu hồi nếu
đủ điều kiện để tách thành từng hộ gia đình riêng theo quy định của pháp luật về
cư trú hoặc có nhiều hộ gia đình có chung quyền sử dụng một (01) thửa đất ở thu
hồi thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ vào quỹ đất ở, nhà ở tái định cư và tình
thực tế tại địa phương quyết định mức đất ở, nhà ở tái định cư cho từng hộ gia
đình.”
Như vậy, việc xét mua nền tái định cư được áp dụng trong trường hợp: Nếu
gia đình có nhiều thế hệ, nhiều cặp vợ chồng cùng chung sống và đủ điều kiện
tách hộ thì những hộ phụ sẽ được xem xét cho mua một nền tái định cư với diện
tích tối thiểu.
Một vấn đề cần lưu ý là tái định cư được chia thành ba trường hợp: tái
định cư, hỗ
trợ tái định cư và xét
mua nền tái định cư. Tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở là việc giao
đất ở, nhà ở hoặc bằng tiền. Hỗ
trợ tái định cư được áp dụng trong trường hợp sau khi tiền bồi thường về
đất nhỏ hơn giá trị một suất tái định cư tối thiểu thì được hỗ trợ khoản chênh
lệch đó.
Để cụ thể hóa quy định tại khoản 4 Điều 6 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP quy định về
bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (Nghị định số
47/2014/NĐ-CP), các địa phương còn quy định trường hợp khi bị THĐ gắn với nhà ở
mà người bị THĐ không đủ điều kiện bồi thường về đất ở và phải di chuyển chỗ ở
và không còn chỗ ở nào khác trên địa bàn cấp xã nơi bị THĐ thì hộ gia đình, cá
nhân đó được xét mua một nền tái định cư với diện tích tối thiểu.
Như vậy, tranh chấp hành chính
trong lĩnh vực bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
là “sự xung đột”, tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa cá nhân, tổ chức, cơ quan
với cơ quan công quyền hoặc người có thẩm quyền trong cơ quan đó, hay những
người được ủy quyền thực hiện hoạt động
trong lĩnh vực bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.
Đây có thể là tranh chấp của các chủ thể sau: (i) xung đột,
tranh chấp giữa các chủ thể cùng được Nhà nước trao quyền quản lý Nhà nước
trong lĩnh vực bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.
(ii) xung đột, tranh chấp trong lĩnh vực bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất giữa chủ thể quản lý Nhà nước với đối tượng
chịu sự quản lý hành chính Nhà nước.
Một
bên Nhà nước trao quyền trong lĩnh vực bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
và một bên là đối tượng quản lý hành chính.
Nguyên nhân của tranh chấp, xung đột này phát sinh với lý do như: Cơ quan, người
có thẩm quyền hoặc những người được ủy quyền thực hiện hoạt động hành chính nhà
nước trong lĩnh vực bồi thường khi nhà nước thu hồi đất đã ra
quyết định hành chính, thực hiện hành vi hành chính, mà đối tượng (cá nhân, tổ
chức) chịu sự tác động của quyết định hành chính, hành vi hành chính cho rằng
quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực bồi thường khi
nhà nước thu hồi đất này là trái pháp luật đã xâm phạm, hoặc đe dọa xâm
phạm tới quyền, lợi ích hợp pháp của mình, yêu cầu các chủ thể có thẩm quyền xem
xét, giải quyết bằng cách gửi đơn khiếu nại, hay khởi kiện tới Tòa án nhân dân
có thẩm quyền giải quyết.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi tập trung làm rõ một số vấn đề lý
luận và các phương thức giải quyết tranh chấp giữa giữa chủ thể quản lý Nhà nước
với đối tượng chịu sự quản lý hành chính Nhà nước trong lĩnh vực bồi
thường khi nhà nước thu hồi đất – đây là tranh chấp chủ thể một bên Nhà
nước trao quyền quản lý hành chính về đất đai và một bên là đối tượng quản lý
hành chính trong lĩnh vực bồi thường khi nhà nước thu hồi đất khi
Nhà nước thu hồi đất.
Bên cạnh đó, để làm rõ vấn đề có tính hệ thống và toàn diện, một số nội dung
chúng tôi cũng có đề cập đến vấn đề hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu
hồi đất.
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về tranh chấp hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất khi Nhà nước thu hồi đất là một loại tranh
chấp pháp lý phát sinh giữa cá nhân, tổ chức, cơ quan với cơ quan công quyền
trong lĩnh vực bồi thường khi nhà nước thu hồi đất khi Nhà nước thu hồi đất.
Khi cơ quan công quyền thực hiện
hoạt động quản lý hành chính Nhà nước có thể ban hành quyết định hành chính,
thực hiện hành vi hành chính thu hồi đất và bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
có thể vi phạm pháp luật làm thiệt hại, hay đe dọa gây thiệt hại về vật
chất, tinh thần cho cá nhân, tổ chức, cơ quan, dẫn đến sự phản ứng của họ
bằng các hình thức yêu cầu các chủ thể có thẩm quyền xem xét, đánh giá tính
hợp pháp của các quyết định bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất. Các hình thức
này ở mỗi quốc gia có thể khác nhau và ở mỗi quốc gia thì các phương thức này
cũng có thể khác nhau ở từng thời điểm lịch sử xã hội cụ thể.
2. Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trong lĩnh vực bồi thường khi nhà nước thu
hồi đất
Bản chất của quá trình giải quyết một tranh chấp hành chính bằng con đường Toà
án là việc tiến hành các hoạt động của các chủ thể khác nhau để Toà án mà cụ thể
là Hội đồng xét xử có thể đưa ra bản án, quyết định đánh giá tính hợp pháp của
quyết định hành chính, hoặc hành vi hành chính bị kiện và yêu cầu bồi thường
thiệt hại (nếu có) của quyết định hành chính, hành vi hành chính bị kiện trực
tiếp gây ra.
Cả về mặt nhận thức và thực tiễn đều cho thấy
Tòa án thực hiện việc xét xử theo nguyên tắc đảm bảo xét xử sơ thẩm và phúc
thẩm.
Thực hiện hai cấp xét xử là yêu cầu khách quan, cần thiết cho việc bảo vệ quyền
lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và lợi ích của Nhà nước. Xét xử
sơ thẩm là hoạt động mang tính toàn diện trong toàn bộ quá trình giải quyết một
vụ án hành chính. Qua đó đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành
vi hành chính hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại (nếu có) do các quyết định hành
chính, hành vi hành chính trực tiếp gây ra trong toàn bộ quá trình giải quyết
một vụ án hành chính.
Quá trình giải quyết một vụ án hành chính phải qua nhiều giai đoạn khác nhau, từ
khởi kiện, thụ lý, chuẩn bị xét xử, tiến hành các phiên họp tiếp cận công khai
chứng cứ và đối thoại và cuối cùng là đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm. Như vậy,
xét xử sơ thẩm là hoạt động xét xử ở cáp thứ nhất do tòa án có thẩm quyền thực
hiện theo quy định của
Luật tố tụng hành chính.
Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính là cấp xét xử đầu tiên, đây là cấp
xét xử quan trọng, bắt buộc phải tiến hành trong
hoạt động tố tụng hành chính
khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử nhằm làm rõ nội dung, bản chất của vụ ánmà
cuối cùng là đánh giá tính hợp pháp của các quyết định hành chính và hành vi
hành chính và vấn đề bồi thường thiệt hại (nếu có) do các quyết định hành chính,
hành vi hành chính này trực tiếp gây ra. Như vậy hoạt động này ảnh hưởng trực
tiếp đến hiệu quả giải quyết một vụ án hành chính, đến chất lượng của hệ thống
Toà án nhân dân trong giải quyết các tranh chấp hành chính.
Trong lĩnh vực khoa học pháp lý, quan niệm về sơ thẩm cũng có nhiều cách hiểu
khác nhau:
Sơ thẩm được hiểu là xét xử một vụ án với tư cách là Tòa án ở cấp xử thấp nhất.
Sơ thẩm được hiểu là lần đầu tiên đưa một vụ án ra xét xử tại Tòa án có thẩm
quyền.
Xét xử sơ thẩm là hoạt động xét xử ở cấp thứ nhất do Toà án có thẩm quyền thực
hiện theo quy định của pháp luật.
Về khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
trong lĩnh
vực bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất khi nhà nước thu
hồi đất là một giai đoạn trong hoạt động tố tụng hành chính. Về mặt pháp
luật đây là tập hợp các quy phạm pháp luật hay là một chế định của pháp luật tố
tụng hành chính điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong hoạt động xét xử sơ thẩm
vụ án hành chính.
Về nội dung đây là cấp xét xử thứ nhất là hoạt động xét xử đánh giá tính hợp
pháp của các quyết định hành chính, hành vi hành chính và yêu cầu bồi thường
thiết hại (nếu có) do các quyết định hành chính, hành vi hành chính này trực
tiếp gây ra
trong lĩnh
vực bồi thường khi nhà nước thu hồi đất khi nhà nước thu hồi đất.
Như vậy, có thể xem xét đây là một giai đoạn trong tổng thể quá trình
giải quyết một vụ án hành chính về bồi thường khi nhà nước thu hồi đất.
Nó nằm trong tổng thể quá trình từ khởi kiện, thụ lý, chuẩn bị xét xử,
xét xử sơ thẩm vụ án hành chính….Với tư cách là một giai đoạn trong quá trình
giải quyết một tranh chấp hành chính bằng con đường tố tụng (vụ án hành chính),
xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
trong lĩnh
vực bồi thường khi nhà nước thu hồi đất là
một giai đoạn có tình độc lập tương đối thể hiện tập trung và đầy đủ các đặc
trưng của tố tụng hành chính.
(i)
Dưới góc độ là một chế định pháp luật, xét xử sơ thẩm vụ án hành chính bao gồm
tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình
giải quyết tranh chấp hành chính
trong lĩnh
vực bồi thường khi nhà nước thu hồi đất theo trình tự sơ thẩm.
(ii)
Trong mối tương quan giữa các cấp xét xử thì xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
trong lĩnh vực bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là một cấp xét xử và là cấp
xét xử đầu tiên nhằm xem xét, đánh giá các chứng cứ, tài liệu và kết quả tranh
tụng tại phiên toà, trên cơ sở đó Hội đồng xét xử sẽ đưa ra phán quyết về tính
hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính và yêu cầu bồi thường
thiết hại (nếu có) do các quyết định hành chính, hành vi hành chính này gây ra
trong lĩnh
vực bồi thường khi nhà nước thu hồi đất khi nhà nước thu hồi đất.
(iii)
Nếu xem xét xét xử sơ thẩm vụ án hành chính
trong lĩnh
vực bồi thường khi nhà nước thu hồi đất khi nhà nước thu hồi đất là một
quá trình thì đây được xem là quá trình bao gồm các hoạt động tố tụng do tòa án
có thẩm quyền thực hiện theo trình tự do pháp luật tố tụng hành chính
quy định khi có yêu cầu khởi kiện hoặc
khi có quyết định của tòa án có thẩm quyền để ra bản án, quyết định sơ thẩm về
tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính và yêu cầu bồi
thường thiết hại (nếu có) do các quyết định hành chính, hành vi hành chính này
gây ra
trong lĩnh vực bồi thường khi nhà nước thu hồi đất khi nhà nước thu hồi đất
bảo vệ quyền và lợi ích cho cá nhân tổ chức và nâng cao hiệu lực quản lý
nhà nước trong lĩnh
trong lĩnh vực quản lý đất đai.
Nếu
không đồng ý với quyết định hành chính hoặc những hành vi
trong lĩnh
vực bồi thường khi nhà nước thu hồi đất thì đối tượng chịu tác động trực
tiếp bởi quyết định và hành vi hành chính trong lĩnh vực này có quyền khởi kiện
vụ án hành chính ra tòa sau khi nhận được quyết định, hành vi đó trong thời hạn
luật định; hoặc sau khi đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu
nại, nhưng hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định của pháp luật về
khiếu nại mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết, nhưng
không đồng ý với việc giải quyết khiếu nại về quyết định nay.
Sau khi đã thụ lý đơn khởi kiện của đương sự và xác định rõ vụ án không thuộc
trường hợp bị hoãn, đình chỉ hay tạm đình chỉ trong thời hạn chuẩn bị xét xử vụ
án, Tòa sẽ ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Phiên xét xử này được gọi là phiên
tòa sơ thẩm vụ án hành chính
bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất khi nhà nước thu hồi đất.
Như vậy có thể đưa ra khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất:
Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất là việc Tòa án đưa vụ án thuộc thẩm quyền ra xét
xử lần đầu tại phiên tòa khi có đủ căn cứ pháp luật, với mục đích là
đánh giá tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh
vực bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất và vấn đề bồi thường thiệt hại (nếu có)
do quyết định hành chính, hành vi hành chính đó gây ra
để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, cơ quan trong lĩnh vực
quản lý
hành chính nhà nước về đất đai.
Thứ nhất,
Chủ thể tiến hành hoạt động xét xử vụ án hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất khi nhà nước thu hồi đất là Hội đồng xét xử được
thành lập theo quy định của Luật tố tụng hành chính, nhân danh Nhà nước để ban
hành các quyết định, bản án buộc các chủ thể liên quan phải thi hành khi các
quyết định này có hiệu lực pháp luật. Đặc điểm này ảnh hưởng trực tiếp đến chất
lượng xét xử các vụ án hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất khi nhà nước thu hồi đất. Nếu các thành viên Hội
đồng xét xử có năng lực xét xử, bản lĩnh chính trị, đạo đức và độc lập chỉ tuân
thủ theo các quy định của pháp luật thì chất lượng xét xử sẽ đảm bảo và ngược
lại.
Thứ hai,
Hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trong lĩnh vực bồi thường khi nhà nước
thu hồi đất khi nhà nước thu hồi đất được tiến hành theo trình tự thủ tục chặt
chẽ theo quy định Luật Tố tụng hành chính.
Đặc điểm này cũng quan trọng trong quá trình giải quyết một vụ án hành chính,
nếu quy định của pháp luật chặt chẽ, rõ ràng…thì việc thực hiện các quy định
pháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nói chung, Hội
đồng xét xử nói riêng sẽ thuận lợi hơn. Tránh được sự áp dụng không thống nhất
pháp luật, tiết kiệm được thời gian, công sức của cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng và của các đương sự.
Thứ ba,
Đối tượng xét xử hành chính trong lĩnh vực bồi thường khi nhà nước thu hồi đất
là các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý hành
chính nhà nước về đất đai nói chung, trong lĩnh vực bồi thường khi nhà nước thu
hồi đất nói riêng do cơ quan, tổ chức nhà nước ban hành và bị đối tượng quản lý
khiếu kiện đến Toà án có thẩm quyền và được Toà án có Thẩm quyền thụ lý theo quy
định của Luật Tố tụng hành chính.
Do đó, trong phiên tòa sơ thẩm hành chính trong lĩnh vực bồi thường khi nhà nước
thu hồi đất có sự hiện diện của một bên đương sự đặc biệt: cơ quan nhà nước và
người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước. Có thể nói đây là phiên tòa duy nhất
mà trong đó luôn có một bên đương sự là đại diện nhà nước. Vì vậy phiên tòa sơ
thẩm hành chính trong lĩnh vực bồi thường khi nhà nước thu hồi đất có ý nghĩa
rất lớn trong việc thể hiện quyền bình đẳng giữa các cá nhân, tổ chức – với cơ
quan nhà nước trong lĩnh vực quản lý đất đai.
(i)
Phiên toà sơ thẩm vụ án hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất là phiên xét xử vụ án hành chính lần đầu của Tòa
án có thẩm quyền. Tuy nhiên xét xử sơ thẩm lại là khâu kết thúc của một quá
trình tổ tụng bao gồm một chuỗi các hoạt động nối tiếp nhau từ giai đoạn khởi
kiện vụ án, thụ lý vụ án, ra quyết định đưa vụ án ra xét xử vụ án hành chính.
(ii),
Phiên toà sơ thẩm vụ án hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất có vị trí quan trọng trong thủ tục tố tụng hành
chính. Có thể nói xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất nói riêng và xét xử nói chung là giai đoạn trọng
tâm của hoạt động tố tụng hành chính. Các hoạt động tố tụng trước đó: khởi kiện,
xem xét đơn khởi kiện, thụ lý vụ án, điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ,
chuẩn bị xét xử... đều nhằm phục vụ cho hoạt động xét xử sơ thẩm vụ án hành
chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất. Xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất còn là cơ sở phát sinh các hoạt động tố tụng
hành chính khác như: kháng cáo, kháng nghị, xét xử theo thủ tục phúc thẩm, giám
đốc thẩm, tái thẩm…
(iii),
Phiên toà sơ thẩm vụ án hành chính vụ án hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất cũng là nơi tập trung đầy đủ và cao độ nhất các
hoạt động tố tụng hành chính. Các chứng cứ, tài liệu do các đương sự cung cấp
hoặc do Tòa án điều tra xác minh đều được đưa ra xem xét công khai tại tòa. Các
vấn đề còn chưa sáng rõ hay
chưa
thống nhất của vụ án đều được hỏi tại phiên tòa. Các bên được phát biểu, tranh
luận, đối đáp một cách bình đẳng, công khai trước Hội đồng xét xử. Hội đồng xét
xử thực hiện việc xét xử thông qua việc nghe các bên đương sự phát biểu, tranh
luận; kiểm tra, xác minh các tài liệu, chứng cứ của vụ án một cách toàn diện và
khách quan; trên cơ sở đó đưa ra những nhận định, quyết định về chủ trương giải
quyết vụ án được đúng đắn, chính xác về các quyết định, hành vi vụ của cơ quan,
người có thẩm quyền trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất. Thông qua tất cả các hoạt động tố tụng đó, tại
phiên tòa sơ thẩm, làm rõ bản chất của vụ án, đánh giá tính hợp pháp của quyết
định hành chính, hành vi hành chính và yêu cầu bồi thường thiết hại (nếu có) do
quyết định hành chính, hành vi hành chính trong hoạt động bồi thường khi nhà
nước thu hồi đất. Trên cơ sở đó Hội đồng xét xử ra các quyết định, bản án để
giải quyết tranh chấp.
(iv),
Kết quả của phiên tòa sơ thẩm quyết định trực tiếp đến quyền, nghĩa vụ của các
bên đương sự (nếu như bản án, quyết định không bị kháng cáo, kháng nghị).
Thứ tư,
việc xét xử vụ án hành chính trong lĩnh vực bồi thương khi Nhà nước thu hồi đất
góp phần quan trọng vào việc bảo vệ và đảm bảo các quy định pháp Luật về bồi
thường khi Nhà nước thu hồi đất được thực hiện đúng trong thực tiễn. Bên cạnh đó
mục tiêu xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trong lĩnh vực
bồi
thường, khi nhà nước thu hồi đất là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
cá nhân, tổ chức khi có tranh chấp với cơ quan nhà nước. Đây là điểm giống nhau
giữa phiên tòa sơ thẩm hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất và phiên tòa sơ thẩm các vụ án khác. Mục đích
này phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Tòa án án nhân dân.
Xét xử vụ án hành chính trong lĩnh vực bồi thương khi Nhà nước thu hồi đất còn
góp phần thể hiện sự giám sát trực tiếp của cơ quan tư pháp đối với cơ quan hành
pháp trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai. Do đặc thù của vụ án hành chính
trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất, nên phiên tòa sơ thẩm còn có mục đích trực tiếp
là đánh giá tính hợp pháp hay bất hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi
hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất. Thông qua phiên tòa sơ thẩm vụ án hành chính
trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất, Tòa án thực hiện việc kiểm soát quyền lực của
cơ quan tư pháp đối với cơ quan hành pháp, góp phần kiểm soát quyền lực nhà
nước, tránh việc lạm quyền và nang cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản
lý nhà nước về đất đai nói chung, trong lĩnh vực bồi thường khi nhà nước thu hồi
đất nói riêng.
Thứ nhất,
xét xử các vụ án hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của đương sự trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất.
Thông qua hoạt động xét xử các vụ án hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất, Tòa án sẽ quyết định giải quyết các vấn đề của
vụ án, xác định quyền và nghĩa vụ của các đương sự. Thông qua bản án, quyết định
của tòa án tại phiên tòa sơ thẩm, quyền và nghĩa vụ của các bên sẽ được định
đoạt, việc giải quyết vụ án hành chính sẽ kết thúc (trừ trường hợp có kháng cáo,
kháng nghị). Cụ thể hơn, trong vụ án hành chính xét xử các vụ án hành chính
trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất, thông qua phiên tòa sơ thẩm, người khởi kiện có
cơ hội bảo vệ quyền, lợi ích đã bị xâm phạm bởi quyết định hành chính, hành vi
hành chính trái pháp luật gây ra, có thể được bồi thường thiệt hại. Trong trường
hợp ngược lại, người bị kiện cũng có cơ hội được bảo vệ tính đúng đắn, hợp pháp
trong quyết định hành chính, hành vi hành chính do người bị kiện ban hành xét xử
các vụ án hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất.
Thứ hai,
xét xử các vụ án hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất có ý nghĩa quan trọng trong việc đảm bảo trật tự
pháp luật, pháp chế trong hoạt động quản lý Nhà nước về đất đai nói chung, trong
lĩnh vực
bồi thường khi nhà nước thu hồi đất nói riêng. Xuất phát từ đặc thù của
vụ án hành chính
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất: đối tượng xét xử luôn là các quyết định hành
chính, hành vi hành chính của các chủ thể có quản lý nhà nước về đất đai. Do đó,
thông qua việc xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính, hành vi hành
chính bồi
thường khi nhà nước thu hồi đất, Tòa án thực hiện chức năng kiểm soát
quyền lực của cơ quan thực hiện quyền tư pháp đối với cơ quan thực hiện quyền
hành pháp trong lĩnh vực quản lý nhà nước về đất đai. Các phán quyết tại phiên
tòa hành chính góp phần ngăn ngừa sự vi phạm pháp luật từ phía cơ quan nhà nước,
góp phần xác lập trật tự kỷ cương, nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động
của cơ quan hành chính về quản lý đất đai, đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của
các chủ thể bị tác động bởi các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong
lĩnh vực này.
Thứ ba,
xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất đóng vai trò quan trọng trong tiến trình tố tụng
hành chính. xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất là phiên xử lần đầu nhưng có ý nghĩa rất quan
trọng đối với việc giải quyết vụ án. Những giai đoạn xét xử sau này có thuận lợi
hay không thuận lợi sẽ phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng xét xử sơ thẩm vụ án
hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất. Việc thực hiện tốt và đầy đủ, cẩn trọng các
hoạt động tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trong
lĩnh vực
bồi thường khi nhà nước thu hồi đất sẽ góp phần tiết kiệm được thời gian,
công sức của cả cơ quan tiến hành tố tung, người tiến hành tố tụng và cả các
đương sự trong vụ án. Điều đó sẽ góp phần ổn định và phát triển của xã hội, nâng
cao uy tín của hệ thống Toà án nhân dân.
Thứ tư,
xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất cũng là nơi thực hiện việc giáo dục pháp luật.
Thông qua hoạt động xét xử của tòa án, người tham dự phiên tòa biết rõ hơn các
quy định pháp luật trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất được tòa án áp dụng để giải quyết vụ án, từ đỏ
nâng cao ý thức pháp luật. Bên cạnh đó thông qua phiên tòa sơ thẩm vụ án hành
chính, người dân và cơ quan hành chính hiểu thêm các quy định pháp luật tố tụng
hành chính. Phạm vi giáo dục pháp luật không chỉ được thực hiện đối với người
tham gia phiên tòa hành chính sơ thẩm mà còn được mở rộng hơn đối với xã hội
thông qua hoạt động báo chí, truyền thông hay công khai các bản án, nội dung xét
xử của Tòa án.
Thứ năm,
xét xử sơ thẩm vụ án hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất nói
riêng, xét xử vụ án hành chính nói chung có ý nghĩa rất quan trọng đối với tiến
trình dân chủ và xây dựng nhà nước pháp quyền ở nước ta. xét xử sơ thẩm vụ án
hành chính trong lĩnh vực
bồi thường
khi nhà nước thu hồi đất là
nơi diễn ra công khai, toàn diện và khách quan mọi hoạt động tố tụng hành chính,
cho phép các đương sự và người đại diện của họ được tranh luận, bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình với bên bị kiện là công quyền. Phiên tòa hành chính sơ
thẩm vì vậy góp phần trực tiếp vào công cuộc mở rộng dân chủ, xây dựng nhà nước
pháp quyền hiện nay ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Hoàng Phê - chủ biên, Trung tâm từ điển học – Viện ngôn ngữ học (2002),
Từ điển Tiếng Việt, Nxb. Đà
Nẵng, Đà Nẵng, tr.836
Viện khoa học pháp lí (2004),
Luật hành chính một số nước trên thế
giới, NXB Tư pháp, Hà Nội, tr.434