Thực trạng hoạt động học tập và nghiên cứu của sinh viên Học viện Tòa án phù hợp với tư tưởng lấy người học là trung tâm
ThS
ThS.NCS. Nguyễn Hữu Hoàng
Giảng viên Phòng NCKH Toà án, Học viện Toà án
Tóm tắt:
Trong bối cảnh hiện nay, hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học là một đòi hỏi
tất yếu khách quan không thể thiếu được đối với sinh viên. Hoạt động học tập và
nghiên cứu khoa học của sinh viên giữ vai trò quan trọng, là nhân tố trực tiếp
nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học. Đào tạo hướng vào người học,
lấy người học làm trung tâm là luận điểm then chốt của dạy học hiện đại và cũng
chính là bản chất của đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Bài viết đề cập thực
trạng hoạt động học tập và nghiên cứu của sinh viên Học viện Toà án phù hợp với
tư tưởng lấy người học là trung tâm.
Từ khóa: hoạt động học tập, nghiên cứu khoa học sinh viên, HĐHT, NCKH
1.
Một số vấn đề lý luận
1.1.
Sơ lược về Học viện Toà án
Ngày 30 tháng 7 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1191/QĐ-TTg
thành lập Học viện Tòa án trên cơ sở Trường Cán bộ Tòa án. Theo Quyết định này,
Học viện Tòa án là cơ sở giáo dục đại học công lập trong hệ thống giáo dục quốc
dân trực thuộc Tòa án nhân dân tối cao hoạt động theo Luật tổ chức Tòa án nhân
dân, Luật Giáo dục đại học và Luật Giáo dục nghề nghiệp.
Học viện Tòa án có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng theo quy
định của pháp luật, có trụ sở chính tại thành phố Hà Nội và Phân viện tại thành
phố Hồ Chí Minh. Căn cứ Quyết định số 386/2016/QĐ-TANDTC ngày 25 tháng 3 năm
2016 của Chánh án Toà án nhân dân tối cao về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
cơ cấu tổ chức của Học viện Tòa án, một trong những chức năng chính của Học viện
Tòa án là đào tạo hệ cử nhân.
Về số lượng giảng viên: Học viện hiện có 40 người là giảng viên cơ hữu đang tham
gia giảng dạy tại Học viện. Bên cạnh đó, Học viện có lực lượng giảng viên thỉnh
giảng là các giảng viên có kinh nghiệm đào tạo từ các cơ sở đào tạo khác như:
Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia, Trường Đại
học Kiểm sát… và các thẩm phán từ các Tòa án địa phương và một số Vụ của Tòa án
nhân dân tối cao. Tuy nhiên, tại Học viện vẫn còn tình trạng một số Bộ môn vẫn
chưa có hoặc chưa đủ giảng viên có thể tham gia giảng dạy bậc đại học. Ví dụ Bộ
môn giáo dục đại cương chưa có giảng viên ngoại ngữ, tin học, …
Về trình độ của giảng viên: Trong tổng số 40 giảng viên cơ hữu của Học viện thì
hiện có 01 người là Phó giáo sư & thẩm phán cao cấp, 01 người là Phó giáo sư &
giảng viên cao cấp, 11 người có học vị tiến sỹ, 26 người có trình độ thạc sỹ, 03
người có trình độ cử nhân.
Với xuất phát điểm tiền thân từ trường đào tạo cán bộ Tòa án, số lượng giảng
viên của Học viện có nhiều kinh nghiệm, kiến thức chuyên sâu dạy hệ đại học còn
chiếm tỉ lệ khiêm tốn. Một số giảng viên của Học viện có thể giảng dạy tốt môn
kỹ năng, nhưng giảng các môn lý luận cơ bản vẫn chưa thực sự đáp ứng yêu cầu về
đào tạo bậc đại học. Đối với lực lượng giảng viên trẻ của Học viện Tòa án, bên
cạnh một số giảng viên nhiệt tình, nỗ lực về chuyên môn, nhưng vẫn còn một số ít
giảng viên tâm lý còn chưa thực sự gắn bó với Học viện Tòa án, chưa nỗ lực trau
dồi chuyên môn, chất lượng giảng dạy chưa thực sự đáp ứng yêu cầu. Giảng viên
hiện có của Học viện vẫn chưa đảm nhiệm được toàn bộ các môn kỹ năng mà chỉ
giảng dạy được một số môn kỹ năng, do vậy, Học viện vẫn phải mời các thẩm phán,
thẩm tra viên chính là giảng viên thỉnh giảng của Học viện tham gia giảng dạy.
Tuy nhiên, các giáo viên này cũng thường xuyên bận công tác, nên hiện tượng lịch
giảng các môn kỹ năng bị hoãn, thay đổi hiện vẫn còn tồn tại tương đối phổ biến
tại Học viện.
1.2.
Một số khái niệm cơ sở
1.2.1.
Học tập và nghiên cứu khoa học
“Hoạt động học tập” là khái niệm dùng để chỉ việc học diễn ra theo phương thức
đặc thù, nhằm lĩnh hội các hiểu biết mới, kĩ năng, kĩ xảo mới.
HĐHT diễn ra sự nắm bắt có kiểm soát những cơ sở kinh nghiệm xã hội và nhận
thức, trước hết dưới dạng các thao tác trí tuệ và khái niệm lí luận cơ bản.
HĐHT là hoạt động bằng chính khối óc và cơ bắp, nhằm chiếm lĩnh tri thức, hình
thành nên những giá trị, những kinh nghiệm và phương thức hoạt động tạo nên sự
phát triển cho bản thân người học bằng một phương thức nhất định;
mang tính đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội
những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt
động nhất định, những giá trị.
Khái niệm nghiên cứu khoa học đã được nhiều học giả nghiên cứu và đưa ra, được
sử dụng trong các văn bản của Nhà nước và tài liệu bồi dưỡng, giảng dạy cho sinh
viên đại học và sau đại học. Theo đó, NCKH là một quá trình nhận thức chân lý
khoa học, là một hoạt động trí tuệ đặc thù bằng các phương pháp nghiên cứu nhất
định để tìm kiếm, để chỉ ra một cách chính xác và có mục đích những điều con
người chưa biết đến (hoặc chưa biết đầy đủ) tức là tạo ra sản phẩm mới dưới dạng
tri thức mới có giá trị mới về nhận thức và phương pháp Nghiên cứu khoa học có
thể có nhiều cấp độ, tùy theo trình độ khái quát của kết quả mà có cấp độ mô tả,
diễn giải các sự vật, hiện tượng.
Để cho phương pháp học tập tiến gần tới phương pháp NCKH thì việc cung cấp kiến
thức và kỹ năng là tiền đề cho hoạt động NCKH cần được tổ chức theo quy trình
riêng, có thể dạy thông qua bộ môn nghiên cứ khoa học, và tổ chức các hoạt động
nghiên cứu dành cho sinh viên tham gia. Nói một cách cụ thể hơn, để sinh viên có
thể độc lập nghiên cứu khoa học đòi hỏi ngay từ những năm học đầu cần phải có sự
chuẩn bị đặc biệt về các mặt sau: đầu tư đào tạo chắc chắn các môn Khoa học-Kinh
tế cơ bản; hoạt động thực hành phải được xây dựng và tiến hành mang đậm nét đặc
trưng về tìm tòi khoa học; các nhiệm vụ mà sinh viên phải giải quyết được sắp
xếp khó dần theo mức lượng kiến thức và kỹ năng nghiên cứu mà sinh viên tiếp thu
được; và phải xây dựng kế hoạch lôi cuốn rộng rãi những sinh viên năm dưới được
đào tạo và tham gia các hoạt động nghiên cứu.
Như vậy, có thể thấy nghiên cứu khoa học ở đây trong nhà trường đại học được coi
như nhiệm vụ dạy và học, một nội dung dạy và học giúp củng cố mở rộng tri thức,
phát triển tư duy sáng tạo; như một phương pháp dạy học; như một hình thức tổ
chức dạy học đòi hỏi phải có đầu tư, tổ chức và quản lý hiệu quả. Nghiên cứu
khoa học là một bộ phận quan trọng của quá trình đào tạo đại học. Đó vừa là mục
tiêu nội dung phương pháp, vừa là hình thức tổ chức dạy học đại học, điều tạo
nên sự khác biệt giữa nhà trường đại học với trường học phổ thông.
Tóm lại, có thể hiểu bản chất của NCKH là hoạt động sáng tạo của các nhà khoa
học được vạch sẵn theo một mục tiêu xác định và được tiến hành dựa trên những
phương pháp khoa học, theo một trình tự logic nhất định nhằm nhận thức thế giới,
tạo ra hệ thống tri thức mới.
1.2.2.
Hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên
Có quan điểm khoa học cho rằng HĐHT ở bậc đại học là một loại hoạt động tâm lí
được tổ chức một cách độc đáo của SV nhằm mục đích có ý thức là chuẩn bị trở
thành người chuyên gia phát triển toàn diện, sáng tạo và có trình độ nghiệp vụ
cao.
Như vậy, hoạt động học tập ở sinh viên có thể được hiểu là
hoạt động bằng chính khối óc và cơ bắp,
nhằm chiếm lĩnh tri thức, hình thành nên những giá trị, những kinh nghiệm và
phương thức hoạt động tạo nên sự phát triển cho sinh viên nhằm mục đích trở
thành chuyên gia phát triển toàn diện, sáng tạo và có trình độ cao.
Trên cơ sở khái niệm chung về nghiên cứu khoa học đã nêu trên, có thể đưa ra
khái niệm NCKH sinh viên như sau: NCKH sinh viên là các hoạt động tìm kiếm,
xem xét, điều tra theo các phương pháp khoa học do sinh viên thực hiện để từ
những dữ kiện đã có đạt đến một kết quả nhận thức mới hơn, cao hơn, giá trị hơn
đối với bản than và cộng đồng.
Mục đích của NCKH sinh viên là nhằm hình thành tính độc lập nghề nghiệp, khả
năng giải quyết một cách sáng tạo những nhiệm vụ thực tiễn và thích ứng được với
những thay đổi của một xã hội năng động và luôn luôn phát triển.
Hoạt động NCKH sinh viên cũng có bản chất của NCKH nói chung, nhưng mang một số
đặc điểm riêng quan trọng sau:
-
Về mục đích nghiên cứu: Các hoạt động NCKHSV phải phục vụ cho mục đích học tập
và rèn luyện các kỹ năng nghiên cứu độc lập
-
Về động cơ: Nhận thức khoa học là động cơ chủ yếu của hoạt động NCKH sinh viên
-
Hoạt động NCKH sinh viên cần thiết có sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy và cán
bộ khoa học của trường đại học và các chuyên gia khác.
-
Tính độc lập về nghề nghiệp, năng lực giải quyết sáng tạo các nhiệm vụ thực tiễn
được hình thành trong quá trình hoạt động khoa học.
-
Hoạt động khoa học góp phần làm sâu rộng những tri thức giúp sinh viên giải
quyết có kết quả các tình huống có tính chất nghề nghiệp… mà họ có thể sẽ gặp
phải trong tương lai.
1.3.
Cơ sở pháp lý của hoạt động học tập và NCKH của sinh viên
Các quan điểm của Đảng và Nhà nước được thể chế hóa trong các văn bản quy định
pháp luật của Nhà nước và được thể hiện trong các chỉ thị, quy chế, quy định,
điều lệ,… Các văn bản này là cơ sở pháp lý, là các công cụ cho tổ chức và triển
khai cho thực hiện các hoạt động KH-CN, hoạt động GD-ĐT nói chung và NCKH sinh
viên nói riêng trong các trường đại học, các văn bản có thể kể đến như:
- Luật Khoa học và Công nghệ ngày 18 tháng 6 năm 2013;
- Luật số 34/2018/QH14 của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Giáo dục đại học
- Nghị định số 99/2019/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật Giáo dục đại học;
- Nghị định số 08/2014/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ quy định
chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học và Công nghệ;
- Nghị định số 69/2017/NĐ-CP ngày 25 tháng 5 năm 2017 của Chính phủ quy định
chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
-
Thông tư 26/2021/TT-BGDĐT
ngày 17 tháng 09 năm 2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
quy định về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên trong cơ sở giáo dục đại
học.
2.
Thực trạng hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên Học viện Toà
án
2.1. Thực trạng học tập
Từ năm 2016 đến năm 2023, Học viện Tòa án đã tổ chức tuyển sinh 07 khóa đại học,
kết quả đã tuyển được số lượng sinh viên 1.977 sinh viên.
Về chỉ tiêu tuyển sinh, trong bối cảnh nhiều trường tuyển sinh thiếu chỉ tiêu,
thậm chí nhiều trường chỉ tuyển sinh được 30% – 40% chỉ tiêu (thống kê riêng
công tác tuyển sinh năm 2019 của Bộ Giáo dục cho thấy, trên toàn quốc tuyển sinh
đạt 63%). Trong khi đó tỷ lệ tuyển sinh bình quân của Học viện Tòa án đạt 96%.
Về chất lượng đầu vào: với kết quả điểm trúng tuyển đầu vào của Học viện (trừ
năm tuyển sinh 2016), Học viện luôn thuộc tốp các trường đại học công lập có
điểm trúng tuyển đầu vào cao (tốp trên). Phương án và hình thức tuyển sinh linh
hoạt và đa dạng, kết hợp phương thức tuyển sinh truyền thống (xét kết quả thi
tốt nghiệp THPT quốc gia), với phương thức khác (xét học bạ, đánh giá năng lực
chuyên biệt).
Bên cạnh đó, Học viện đã tổ chức đào tạo thành công hệ đại học chính quy khoá
1,2,3 với tổng số sinh viên tốt nghiệp của 3 khóa là 789 sinh viên chiếm tỉ lệ
98,7%. Cụ thể: Khóa 1 có 199/202 sinh viên đã tốt nghiệp; khóa 2 có 304/305 đã
tốt nghiệp (gồm cả 2 sinh viên khóa 1); khóa 3 có 289/295 sinh viên đã tốt
nghiệp. Các em sinh viên tốt nghiệp của khóa 1,2 trúng tuyển vào làm công chức
hệ thống Tòa án bước đầu đã được các Tòa án địa phương đánh giá có kiến thức, có
khả năng đáp ứng công việc được giao.
Hiện nay,
nhìn chung chương trình đào tạo
tổng thể của Học
viện Toà án cũng giống như một số cơ sở đào tạo luật (thiết kế từ 120 đến 127
tín chỉ) khác
chủ yếu cũng cấp được cho người học khối kiến về tri thức pháp luật.
Nhìn chung, chương
trình đào tạo của Học
viện Toà án hiện nay
được xây dựng trên cơ sở chương trình khung do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành,
phù hợp với sứ mệnh, mục tiêu giáo dục và chức năng, nhiệm vụ của Học
viện.
Tuy nhiên,
chương
trình đào tạo không tránh khỏi những bất cập và cần đổi mới để thực sự hướng về
nhu cầu của người học và nhu cầu của xã hội
nhất là bối cảnh CMCN 4.0 và hoạt động của Toà án điện tử trong tương lại luôn
đòi hỏi phải đào tạo ra nguồn nhân lực có các kỹ năng mới và trình độ giáo dục
cao hơn so với 10 năm trước.
Qua hoạt động giảng dạy và nghiên cứu về chương trình đào tạo tại Học viện
Toà
án cho thấy:
Chương trình đào tạo
hướng đến
cung cấp kiến thức và kĩ năng chuyên môn sâu về pháp luật đặc
biệt là các học phần đặc thù chuyên ngành xét xử nhằm trang bị cho người học các
kỹ năng nghề nghiệp hệ thống Toà án, đặc biệt các học phần này được triển khai
bằng đội ngũ thẩm phán có kinh nghiệm xét xử lâu năm trong hệ thống Toà án. Tuy
nhiên,
trong xu thế yêu cầu chất lượng nguồn nhân lực tư pháp đủ tiêu chuẩn kỹ năng để
đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp và vận hành Toà án điện tử thì chương
trình đào tạo hiện nay của Học viện
Toà
án cần điều chỉnh sửa và triển khai trên nền tảng công nghệ số, thành tựu của
CMCN 4.0.
2.2. Thực trạng nghiên cứu khoa học
Qua các hoạt động nghiên cứu khoa học tại Học viện Toà án, sinh viên sẽ được rèn
luyện, cọ xát với những tri thức mới về khoa học công nghệ trong chuyên ngành
của mình để từ đó vận dụng những kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng được trang bị
trong quá trình học để từ đó giải quyết những vấn đề mà thực tiễn đặt ra. Để
người học có thể đạt đến hoạt động nghiên cứu và tự nghiên cứu một cách lý tính
thì trước hết sinh viên cần phải có những nền tảng cơ bản, cần thiết từ các môn
học đại cương và chuyên ngành từ các năm học đầu tiên. Trong quá trình học tập
tại đây, hầu hết các sinh viên đều phải thực hiện hoạt động nghiên cứu khoa học
thường xuyên dù là nhỏ nhất từ việc thảo luận một vấn đề, chuyên đề, tình huống…
trong các giờ học và các hoạt động khác ở mức độ cao hơn liên quan đến hệ thống
các kiến thức chuyên ngành cùng các vấn đề mà thực tiễn đòi hỏi trong xã hội.
Như viết chuyên đề cho đề tài nghiên cứu khoa học, tham gia phát biểu tại buổi
tham luận hoặc thực tập thực tiễn… Tất cả những hoạt động trên đều nhằm một mục
đích trau dồi khả năng nghiên cứu, tự nghiên cứu giúp sinh viên có thể hình
thành nên tư duy sắc bén nhằm giải quyết vấn đề đặt ra một cách tốt nhất và vừa
kích thích, gia tăng sự hứng thú với hoạt động nghiên cứu khoa học ở mọi phạm vi
học thuật. Đặc biệt, trong khoảng thời gian gần đây, Học viện Toà án đang ngày
càng chú trọng và đẩy mạnh vào việc khai thác sự tiềm năng vốn có từ chính các
giảng viên và sinh viên trong trường nhằm phát huy tinh thần nghiên cứu khoa học
trong học viện. Chính vì vậy công tác nghiên cứu khoa học đã được các thầy cô,
sinh viên của trường nhận thức một cách đúng đắn để dốc hết tâm huyết, nỗ lực
đẩy cao trách nhiệm của mình trong hoạt động nghiên cứu khoa học nói riêng và
hoạt động của học viện nói chung. Một số kết quả đạt được trong công tác nghiên
cứu khoa học sinh viên tại Học viện Tòa án trong những năm vừa qua như sau:
Bảng 1: Tổng quan về thành tích trong hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh
viên Học viện Tòa án
|
STT
|
Năm học
|
Số đề tài đăng ký
|
Số đề tài xét duyệt
|
Số đề tài đạt giải
|
|
Nhất
|
Nhì
|
Ba
|
Khuyến khích
|
Giải Eureka
|
NCKH cấp bộ
|
|
1
|
Từ 2019 đến 2020
|
10
|
10
|
1
|
2
|
2
|
3
|
|
02 đề tài đạt giải nhì, 01 đề
tài đạt giải ba”
|
|
2
|
Từ 2020 đến 2021
|
27
|
15
|
2
|
5
|
2
|
1
|
01 đề tài giải khuyến khich
|
|
|
3
|
Từ 2021 đến 2022
|
40
|
12
|
|
4
|
3
|
3
|
|
|
|
4
|
Từ 2022 đến 2023
|
47
|
16
|
|
4
|
5
|
4
|
01 đề tài đạt giải Nhất Eureka năm 2023”
|
|
|
5
|
Từ 2023 đến 2024
|
56
|
26
|
Đang trong quá trình triển khai
|
Nguồn: tác giả tự tổng hợp
Mặc dù bắt đầu tuyển sinh từ năm 2016 nhưng phải bắt đầu đến năm học 2019-2020,
hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên mới bắt đầu được triển khai tại Học
viện Tòa án. Vì ở thời điểm các năm học đầu tiên các em sinh viên còn mới bắt
đầu làm quen với môi trường học tập mới và chưa có nhận thức về vai trò và tầm
quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa học. Trong năm học 2019 – 2020 đã có 10
đề tài được đăng ký và xét duyệt cho thực hiện. Kết quả đạt được trong năm học
này là 08 đề tài NCKH sinh viên đạt giải cấp Học viện bao gồm: 01 giải Nhất; 02
giải Nhì; 02 Giải Ba; 03 Giải Khuyến khích. Đây là một kết quả khả quan vì số
lượng đề tài đạt giải chiếm tỷ lệ 80% so với các đề tài đã được thực hiện. Dựa
trên các kết quả ban đầu này, Học viện Tòa án đã gửi đi 03 đề tài nghiên cứu
khoa học tham gia xét Giải thưởng “Sinh viên nghiên cứu khoa học” do Bộ Giáo dục
và Đào tạo tổ chức đều đạt thành tích cao: có 02 đề tài đạt đạt giải Nhì và 01
đề tài đạt giải Ba. Như vậy có thể thấy rằng thời điểm khởi đầu triển khai hoạt
động nghiên cứu khoa học tại Học viện Tòa án, số lượng đề tài đăng ký không
nhiều nhưng với nỗ lực của thầy và trò, sinh viên Học viện Tòa án đã đạt được
một số kết quả với tín hiệu khả quan. Kết quả này là tiền đề để thúc đẩy phong
trào nghiên cứu của sinh viên trong những năm học tiếp theo.
Bắt đầu đến năm học 2020-2021, hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên có xu
hướng phát triển. Trong năm học 2020 – 2021 số lượng đề tài nghiên cứu khoa học
đăng ký lên tới 27 đề tài, trong đó có 15 đề tài đã được xét duyệt để thực hiện.
Với kết quả này có thể thấy được rằng sinh viên Học viện Tòa án đã nhận thức
được tốt hơn về tầm quan trọng của hoạt động nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, số
lượng đề tài được xét duyệt chỉ chiếm 55% so với lượng đề tài đăng ký trong năm
học này. Nguyên nhân của thực trạng này là do mặc dù đã có nhận thức cần phải
nghiên cứu, nhưng các đề tài đảm bảo chất lượng để được thực hiện chỉ chiếm được
một nửa trong các đề tài đã được đăng ký. Kết quả trong năm học 2020-2021 là Học
viện có 10 đề tài NCKH sinh viên đạt giải cấp Học viện bao gồm: 02 giải Nhất; 05
giải Nhì; 02 giải Ba và 01 Giải Khuyến khích. Trong năm học này Học viện có 07
đề tài đạt chất lượng cao tham gia Giải thưởng sinh viên NCKH Euréka lần thứ 23
tại thành phố Hồ Chí Minh, Học viện Tòa án đã có 01 đề tài lọt vào vòng chung
khảo và đã xuất sắc dành giải Khuyến khích. Đây là một kết quả rất khả quan cho
phong trào NCKH sinh viên của Học viện Tòa án. Thêm vào đó, sinh viên Học viện
Tòa án còn có một số những thành tích khác trong các cuộc thi nghiên cứu khoa
học như:
-
Đạt thành tích cao trong Cuộc thi Diễn án Trọng tài đầu tư quốc tế năm 2020 do
Trung tâm Nghiên cứu pháp lý quốc tế (Center for International Legal Studies -
CILS), Hội Luật Quốc tế Việt Nam (Viet Nam Society of International Law - VSIL)
và Trường Đại học Luật Hà Nội cùng phối hợp tổ chức.
-
Đạt Giải nhì trong Cuộc thi Phiên toà hình sự giả định do khoa Pháp luật hình sự
và Kiểm sát hình sự, Trường Đại học Kiểm sát Hà Nội cùng Hiệp hội Luật sư Hoa
Kỳ, Hội luật gia Việt Nam phối hợp đồng tổ chức.
Trong năm học 2021 – 2022, số lượng đề tài đăng ký đã tăng hơn 120% so với năm
học trước. Sau 3 năm thực hiện công tác nghiên cứu khoa học sinh viên thì đến
thời điểm này sinh viên Học viện Tòa án đã có nhận thức và các kỹ năng nhất định
phục vụ cho việc nghiên cứu. Trong năm học này có 10 đề tài NCKH sinh viên đạt
giải cấp Học viện bao gồm: 04 giải Nhì; 03 giải Ba; 03 giải Khuyến khích. Các đề
tài có chất lượng đang được các nhóm nghiên cứu tiếp tục hoàn thiện và gửi đi
tham gia xét các giải thưởng sinh viên NCKH cấp quốc gia như Giải thưởng “Sinh
viên nghiên cứu khoa học” do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức; Giải thưởng sinh
viên NCKH Euréka. Tuy vậy, trong năm học này hoạt động NCKH của sinh viên Học
viện Tòa án không có kết quả nào nổi bật.
Năm học 2022-2023 đánh dấu thành tích quan trọng trong hoạt động NCKH của sinh
viên Học viện Tòa án. Số lượng đề tài NCKH mặc dù đăng ký không tăng nhiều so
với năm 2021-2022 nhưng chất lượng của các đề tài NCKH đã tăng so với năm trước
(05 giải Nhì; 04 giải Ba; 04 giải Khuyến khích). Đặc biệt trong năm học này có
01 đề tài của Học viện Tòa án đã đạt được kết quả cao trong cuộc thi Eureka. Đề
tài “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng - thực trạng và giải pháp"
của nhóm sinh viên Trần Thị Nhật Thanh, Lê Nguyễn Linh Chi, Cao Khắc Tân, Phạm
Văn Trung, và Bùi Thanh Trúc dưới sự hướng dẫn của ThS. NCS Đỗ Nhật Ánh - Học
viện Toà án đã giành giải Nhất, khi vượt qua 178 đề tài được lựa chọn vào vòng
Chung kết. Đề tài đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng, đề xuất và hoàn
thiện lĩnh vực pháp lý trên không
gian mạng, đặc biệt trong bối cảnh tội phạm trên không gian mạng ở Việt Nam đang
nổi lên ngày càng nhiều như: tội phạm đánh bạc, lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cho
vay lãi nặng... gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng về tài sản cũng như tinh thần
cho người dân và không ngừng biến tướng, trở thành mối nguy hiểm tiềm tàng trong
xã hội. Đề tài này là một kết quả đến từ sự nỗ lực không chỉ của sinh viên và
còn ở giảng viên hướng dẫn và cán bộ quản lý khoa học của Học viện Tòa án.
Như vậy qua các kết quả đạt được từ hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên Học
viện Tòa án trong thời gian vừa qua, có thể nhận thấy được rằng từ những bước
đầu thực hiện công tác nghiên cứu khoa học, sinh viên Học viện Tòa án đã có
những tiến bộ được thể hiện trong kết quả ở mỗi năm học. Sinh viên từ những bước
đầu bỡ ngỡ đã có những phát triển trong nhận thức về tầm quan trọng của nghiên
cứu khoa học. Không chỉ vậy sinh viên còn phát triển được thêm các kỹ năng về
nghiên cứu với sự nỗ lực không ngừng của các giảng viên Học viện Tòa án. Mặc dù
vậy, hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên về bản chất vẫn chịu ảnh hưởng
của một số yếu tố. Để hoạt động nghiên cứu khoa học được phát triển hơn thì các
giải pháp đề xuất cần phải được tập trung vào các yếu tố này.
2.3. Một số yếu tố tác động đến hoạt động học tập và NCKH của sinh viên Học viện
Tòa án
Có nhiều yếu tố tác động đến hoạt động NCKH sinh viên, trong đó có 4 yếu tố cơ
bản tác động trực tiếp đến quy mô, chất lượng, hiệu quả hoạt động này:
Năng lực học tập – nghiên cứu khoa học của sinh viên:
Bản thân sinh viên là người đóng vai trò chính trong sự thành công của nghiên
cứu khoa học. Muốn nghiên cứu tốt thì sinh viên cần phải có trình độ kiến thức,
kỹ năng, phương pháp tốt nhất định. Sinh viên cần phải chăm chỉ học tập, năng
động, ham học hỏi hơn và có sự say mê nghiên cứu. Trên cơ sở có một số kiến thức
nhất định được trang bị qua các môn lý thuyết và thực hành hoạt động nghiên cứu
khoa học sinh viên phải được tổ chức phù hợp với trình độ và yêu cầu học tập của
sinh viên từng năm, từng giai đoạn, để sớm đưa sinh viên vào tham gia nghiên cứu
khoa học, giao cho họ nghiên cứ giải quyết những vấn đề từ dễ đến khó, từ đơn
giản đến phức tạp, có như vậy kiến thức của họ mới được củng cố và mở rộng, tài
năng của họ mới được phát huy, khả năng tư duy, tổ chức, tập hợp mới được bồi
dưỡng.
Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên hướng dẫn:
Chất lượng nghiên cứu khoa học của sinh viên còn phụ thuốc vào các giảng viên
hướng dẫn. Muốn sinh viên trở thành những người nghiên cứu tốt trước hết cần
phải có những người thầy, người cô sáng tạo, có kinh nghiệm nghiên cứu khoa học
từ đó mới khơi gợi sự ham thích, giúp sinh viên phát triển tư duy nghiên cứu và
sáng tạo. Vai trò của người hướng dẫn rất quan trọng, có tính chất quyết định
trong việc định hướng cho sinh viên cách thức triển khai thực hiện một đề tài
nghiên cứu. Trong suốt quá trình này người hướng dẫn phải đóng vai trò “hoa
tiêu” giúp sinh viên từng bước thực hiện sao cho có hiệu quả nhất. Bên cạnh đó,
người hướng dẫn muốn trở thành giảng viên giỏi thì luôn phải biết nghiên cứu,
tìm tòi, sáng tạo trong dạy học. Như vậy, nghiên cứu và hướng dẫn sinh viên
nghiên cứu khoa học là yêu cầu bắt buộc đối với tất cả các giảng viên đại học.
Để phát triển và nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học sinh viên trước tiên
cần phải nâng cao chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học của giảng viên.
Các chủ trương, chính sách về nghiên cứu khoa học sinh viên:
Các chủ trương, chính sách thể hiện nhận thức, quan điểm của người quản lý, có
ảnh hưởng chi phối tới tổ chức quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên;
các chính sách có tác động thay đổi, nâng cao nhận thức, khuyến khích tạo điều
kiện thuận lợi hoạc cản trở việc thực hiện các hoạt động khoa học công nghệ của
các trường đại học nói chung cũng như hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên
nói riêng.
Điều kiện đảm bảo cho hoạt động học tập và nghiên cứ khoa học sinh viên trong
nhà trường:
Quá trình dạy học đại học là quá trình phát huy nội lực của người học bằng tự
học và nghiên cứu khoa học. Điều này đỏi hỏi những tiền đề vật chất phải được
đáp ứng như điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học và phục vụ tra cứu
khai thác thông tin, thư viện – tài liệu thảm khải cho học tập và nghiên cứu
khoa học… và cả kinh phí cho các hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên.
3.
Giải pháp thúc đẩy học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên Học viện Tòa án
Để tăng cường và thúc đẩy hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh
viên, dựa trên thực trạng và các yếu tố tác động, trong phạm vi bài viết này tác
giả đưa ra một số các giải pháp cụ thể như sau:
·
Giải pháp nâng cao nhận thức về học tập và NCKH của sinh viên
Trước hết, Cần có những hoạt động thúc đẩy tuyên truyền, đưa các thông tin về
NCKH đến gần với sinh viên hơn nữa, làm cho mỗi sinh viên đều tự ý thức được tầm
quan trọng của hoạt động NCKH và NCKH không phải là một hoạt động xa vời mà rất
thiết thực với bản thân sinh viên.
Thứ hai, xây dựng diễn đàn khoa học cho giảng viên và sinh viên trong khoa, tạo
tiền đề để sinh viên hứng thú với công tác nghiên cứu khoa học. Đăng lên diễn
dàn các bài nghiên cứu trước đó của các sinh viên và giảng viên khoa-trường.
Liên tục cập nhật các thông tin liên quan tới các hoạt động nghiên cứu như về
các cuộc thi, hội thảo, những lợi ích của việc nghiên cứu, các phương pháp
nghiên cứu.
Thứ ba, tạo phong trào NCKH cho sinh viên bằng cách tổ chức nhiều cuộc thi, sân
chơi trí tuệ nhằm thu hút sinh viên tham gia, chia sẻ, học hỏi kinh nghiệm, kiến
thức. Xây dựng câu lạc bộ học thuật dành cho sinh viên. Tổ chức nhiều buổi sinh
hoạt học thuật về phương pháp nghiên cứu để sinh viên hiểu rõ hơn về cách thức
làm một bài nghiên cứu.
Thứ tư, tăng cường tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm trao đổi nhằm giới thiệu,
trang bị cho sinh viên những phương pháp học tập hiện đại, xây dựng mục tiêu
thái độ học tập, nghiên cứu đúng đắn; kết hợp với việc giao lưu giữa sinh viên
với những người thành công trong học tập, nghiên cứu khoa học, từ đó thắp sáng
ước mơ, hoài bão trong sinh viên. Cần tìm hiểu nguyện vọng của sinh viên trong
từng khóa để tập hợp những vướng mắc và cùng giải quyết.
·
Giải pháp rèn luyện kỹ năng học tập và NCKH cho sinh viên
Bản thân mỗi sinh viên cần tích cực, chủ động hơn nữa trong việc lên kế hoạch
học tập và nghiên cứu, xác định mục tiêu rõ ràng, tìm hiểu và lựa chọn cho mình
một phương pháp học tập, nghiên cứu hiệu quả, phù hợp. Nâng cao khả năng tự học,
ngoài thời gian nghe giảng trên lớp thì sinh viên cần tăng cường việc tự học, tự
nghiên cứu ở nhà, ở thư viện để mở rộng và đào sâu tri thức, trong đó kỹ năng tự
đọc tài liệu rất quan trọng. Tăng cường thảo luận, tích cực trình bày quan điểm
và tranh luận.
Sinh viên có thể từ từ tiếp cận đối với hoạt động NCKH như: bắt đầu bằng việc
đọc các tài liệu liên quan đến lĩnh vực bạn yêu thích hoặc tham dự một buổi hội
thảo nghiên cứu hay một loạt chuyên đề. Cố gắng là một người đọc, một người nghe
chủ động bằng cách phân tích và tìm hiểu sâu hơn những vấn đề được đề cập..
.Nghiên cứu các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí hay các nguồn dữ liệu
trực tuyến.
Đối với giảng viên: Là
những chuyên gia trực tiếp hướng dẫn cho sinh viên, thầy cô cần quan tâm định
hướng ý tưởng cho sinh viên trong những vấn đề cấp thiết. Xây dựng, đăng ký danh
mục tên các đề tài và mục tiêu nghiên cứu có tính thực tiễn, có thể áp dụng hiệu
quả khi đề tài hoàn thành, để sinh viên đăng ký thực hiện theo thế mạnh và sở
trường của mình. Bên cạnh đó cũng sẽ giảng viên cần tích cực hướng dẫn sinh viên
trong quá trình làm bài nghiên cứu để cho sinh viên thấy rõ lỗi sai của mình và
tính hiệu quả của bài nghiên cứu. Từ đó sinh viên sẽ hướng thú hơn đối việc
nghiên cứu vì cảm thấy công trình của bản thân có hiệu quả.
·
Giải pháp tăng cường quản lý các điều kiện đảm bảo cho hoạt động học tập và NCKH
của sinh viên
Thực tiễn chứng minh rằng không thể có chất lượng đào tạo tốt nếu không có một
cơ sở vật chất, kỹ thuật tương ứng với đòi hỏi của nhiệm vụ đào tạo và nghiên
cứu khoa học. Vì vậy, cơ sở giáo dục cần phải xây dựng hệ thống tư liệu, phòng
đọc phong phú đáp ứng yêu cầu về chủng loại, số lượng, tính thời sự của tài liệu
và phải thuận tiện cho việc nghiên cứu của giảng viên, sinh viên. Thêm vào đó,
thiết lập mạng thông tin phục vụ đào tạo, nghiên cứu, mạng thư viện điện tử, hệ
thống máy tính hỗ trợ internet, mở rộng đối tượng phục vụ, hỗ trợ hết mình có
các sinh viên có đề tài NCKH.
Kinh phí cho nghiên cứu khoa học cũng là một điều kiện quan trọng đảm bảo cho
hoạt động nghiên cứu của sinh viên. Ngoài các nguồn kinh phí hiện có của trường,
các phòng khoa cũng cần phải năng động thực hiện đa dạng hóa hình thức, phương
thức để tạo nguồn kinh phí cho NCKH như tìm sự trợ giúp của các tổ chức quốc tế,
doanh nghiệp địa phương. Thêm vào đó, quỹ NCKH Sinh viên cần phải được phát
triển hơn nữa để hỗ trợ cho các sinh viên nghiên cứu và khen thưởng đối với các
sinh viên có thành tích tốt trong nghiên cứu khoa học.
Kết luận
Hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên giữ vai trò quan trọng,
là nhân tố trực tiếp nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường đại học.
Trong những năm vừa qua mặc dù có nhiều thành tựu đáng kể trong hoạt động học
tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên Học viện Tòa án nhưng vẫn tồn tại các
yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng. Chính vì vậy, để kích thích và phát huy hiệu
quả năng lực học tập và nghiên cứu, tính năng động, sáng tạo trong NCKH của sinh
viên, cơ sở đào tạo nói chung và Học viện Tòa án nói riêng cần cân nhắc thực
hiện các giải pháp đề xuất nêu trên.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
Luật Khoa học và Công nghệ ngày 18 tháng 6 năm 2013;
2.
Luật số 34/2018/QH14 của Quốc hội: Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Giáo dục đại học
3.
Nghị định số 99/2019/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2019 của Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
Luật Giáo dục đại học;
4.
Thông tư 26/2021/TT-BGDĐT
ngày 17 tháng 09 năm 2021 của Bộ Giáo dục và Đào tạo
quy định về hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên trong cơ sở giáo dục đại
học.
5.
Phạm Minh Hạc (1996),
Một số vấn đề giáo dục và khoa học giáo dục. NXB Giáo dục.
6.
Vũ Dũng (2008),
Từ điển Tâm lí học. NXB Từ điển Bách khoa, tr.325
7.
Lê Thị Diệu Lý (2020),
Thực trạng quản lí hoạt động học tập của học sinh các trường tiểu học quận Ninh
Kiều, Thành phố Cần Thơ. Tạp chí Giáo dục, 448, 31-37.
8.
Lưu Xuân Mới (2003), Phương pháp luận NCKH, Nxb Đại học sư phạm 2003.
9.
Nguyễn Thạc, Phạm Thành Nghị (2008), Tâm lí học sư phạm Đại học, NXB Đại học Sư
phạm 2008.
10.
Nguyễn
Thị Minh (2021), Đổi mới phương pháp giảng dạy các môn học thuộc khối giáo dục
đại cương trước tác động của cách mạng 4.0 tại Học viện Tòa án hiện nay, đề tài
NCKH cơ sở
Học viện Tòa án.